Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÁC DOANH NGHIỆP MAY PHỤC VỤ QUÂN ĐỘI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp may phục vụ Quân đội 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài (1) Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực (i) Adam Smith (1723-1790), nhà kinh tế học cổ điển người Anh, được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm về NNL, trong tác phẩm “Khảo sát về điều kiện tự nhiên và các nguyên nhân dẫn đến sự giàu có của các quốc gia, quyển số 2 - điều kiện tự nhiên, sự tích lũy và nguồn lao động”, NXB London: Methuen & Co., tác giả đã đưa ra học thuyết về vốn con người, con người có thể được đào tạo và phát triển, thông qua đó sẽ mang lại lợi ích cho tổ chức [95], Ông cũng đưa ra định nghĩa NNL là sự tích lũy những năng lực trong quá trình học tập, tích lũy kỹ năng LĐ, quá trình này đòi hỏi chi phí, vì vậy sự tích lũy năng lực được xem là sự kết tinh trong con người của tư bản cố định. (ii) Alfred Marshall (1842-1924), trong cuốn sách “Các nguyên lý kinh tế”, Nxb London: Macmillan and Co., đã đưa các ý tưởng về cung và cầu, độ thỏa dụng biên và chi phí sản xuất thành một khối tổng thể, theo Alfred Marshall “Cái giá trị nhất của tất cả các nguồn vốn là đầu tư vào con người” [96], ông cũng thống nhất với khái niệm vốn nhân lực với Adam Smith khi cho rằng vốn nhân lực là một tài sản cá nhân bao gồm năng lượng, năng lực và các kỹ năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuất công nghiệp.
6 Như vậy, mặc dù có sự khác nhau về góc độ nghiên cứu và kết quả nghiên cứu, nhưng các nhà nghiên cứu trên đều thống nhất về quan điểm khi cho rằng PTNNL là phát triển kỹ năng LĐ, nhận thức cho mỗi cá nhân thông qua học tập, đào tạo, phát triển, từ đó đóng góp và mang lại lợi ích cho tổ chức. Những nội dung này sẽ được NCS kế thừa và chọn lọc trong quá trình thực hiện luận án. (iii) Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức nhỏ - Lý thuyết và thực hành”, NXB Routledge, do Jim Stewart và Graham Beaver làm chủ biên với 3 phần: Các nghiên cứu về đặc điểm của các tổ chức quy mô nhỏ và các gợi ý trong việc thiết kế và thực hiện nghiên cứu về PTNNL, những kết quả nghiên cứu về các cách tiếp cận để PTNNL trong các tổ chức quy mô nhỏ, các phương pháp PTNNL mà các tổ chức quy mô nhỏ thường áp dụng và thực hiện. Công trình đã: (1) Cung cấp một cái nhìn tổng quan của nghiên cứu hiện đại vào thực tế của PTNNL trong các tổ chức nhỏ; (2) Cung cấp các ví dụ thực tiễn về các dự án nghiên cứu PTNNL trong các tổ chức nhỏ [106].
Đây là những kinh nghiệm quý trong việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp PTNNL mà Luận án sẽ kế thừa và phát triển. (iv) Trong công trình “Định nghĩa của Phát triển nguồn nhân lực: Những khái niệm chính từ bối cảnh quốc gia và quốc tế” đăng trên tạp chí European Journal of Social Sciences, tập 10, số 4/2009, tác giả Haslinda Abdullah (Khoa Kinh tế và Quản lý-Đại học Putra, Malaysia) đã xác định và phân biệt rõ giữa khái niệm “đào tạo và phát triển” với “PTNNL”. Trong đó, tác giả khẳng định đào tạo và phát triển là quá trình thay đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua học tập, kinh nghiệm để đạt được hiệu suất, hiệu quả trong một hoạt động hay một phạm vi nhất định, mục đích là đáp ứng các tình huống công việc, phát triển kỹ năng từng cá nhân và đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai của tổ chức. Đối với PTNNL, tác giả đưa ra khái niệm trong từng thời kỳ nhất định và tổng hợp kết luận là: PTNNL là tập hợp các hoạt động kế hoạch được thiết kế một cách có hệ thống bởi một tổ chức để cung cấp cho các thành viên có cơ hội học tập những kỹ năng cần thiết để đáp ứng nhu cầu công việc trong hiện tại và tương lai [103].
7 Các nghiên cứu này sẽ góp phần giúp Luận án làm rõ được khái niệm và nội hàm của PTNNL, các quan điểm về PTNNL ở các phạm vi khác nhau. Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của Hooi Lai Wan (Trường Kinh doanh quốc tế IBS, Đại học Công nghệ Malaysia) với bài báo “Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Nâng cao mức độ hài lòng của nhân viên” đăng trên tạp chí European Industrial Training, tập 31, số 4/2007 và bài viết của tác giả David Simmonds (Đại học Westminster, Anh quốc) và Cec Pedersen (Đại học Southern Queensland, Australia), trong nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực: Định hình các việc phải làm” đăng trên tạp chí Workplace Learning, tập 18, số 2/2006 đã mang đến cái nhìn thực tiễn về PTNNL, cung cấp các kiến thức hiện tại về mặt thực tiễn PTNNL tốt nhất giúp các DN có thể phát triển nguồn vốn con người này để tạo ra và nâng cao lợi thế cạnh tranh [104], [100]. Luận án sẽ chọn lọc và kế thừa các kết quả này để xây dựng các giải pháp PTNNL. (2) Các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp may (i) Theo Liu Xiang & Xing Zhenzhen (Khoa Khoa học kinh tế và công nghệ thông tin, Đại học Karlstad-Thụy Điển), trong đề tài “Phân tích ngành may mặc ở Trung Quốc: Nghiên cứu bài học từ Công ty TNHH Yichang Richart” (2009), cho rằng NNL là nhân tố quan trọng trong các DN may mặc.
Liu Xiang & Xing Zhenzhen khuyên rằng: (1) Nên tạo điều kiện thuận lợi để cho người LĐ trong các DN may mặc được phát triển mức độ làm việc của họ và gia tăng mức lương cho họ, điều này kích thích động lực phát triển năng lực, giá trị cá nhân người LĐ, từ đó góp phần nâng cao giá trị vốn LĐ trong DN. (ii) Trong Báo cáo “Cách tiếp cận Phát triển Nguồn nhân lực để Khả năng Sáng tạo: Một nghiên cứu điển hình về ngành sản xuất dệt may Thổ Nhĩ Kỳ” của Ezgi Saribaloglu, Thạc Sĩ Quản Lý, Các Tổ Chức và Quản Trị, Trường Kinh tế và 8 Khoa học Chính trị Luân Đôn đã nghiên cứu vai trò của đầu tư PTNNL trong ngành dệt may, trong đó, các biến ảnh hưởng đến NNL có thể được xem xét trong hai chiều: Ở góc độ quản trị DN, đó là những nỗ lực của chính DN để đầu tư vào LĐ của mình như: Đào tạo tại chỗ và bên ngoài có liên quan đến hiệu quả của hệ thống giáo dục phổ thông trong nước. Ở góc độ QLNN: Đối với trường hợp ngành dệt may công nghiệp, việc xây dựng và cách thức vận hành của nền giáo dục và hiệu quả của hệ thống giáo dục đào tạo nghề và kỹ thuật của các khoa trong các trường đại học là một nhân tố tác động đến hiệu quả PTNNL của các DN dệt may [101]. (iii) Trong bài viết “Phân tích chính sách PTNNL: Nghiên cứu hình thức công nghiệp dệt may tại Trung Nam Punjab” của Tiến sĩ Abdul Ghafoor Awan, Trưởng Khoa Quản trị và Khoa học Xã hội, Viện Southern Punjab Multan, Pakistan và Học giả Saleem Iqbal, Viện Nam Punjab Multan, Pakistan đăng trong Tạp chí Toàn cầu về Quản lý Nhân sự-Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo và Phát triển Châu Âu (Vol.40-59, tháng 12 năm 2014), đã khẳng định NNL có giá trị cao là sự sống còn của DN Dệt May chứ không phải là trình độ công nghệ hay cơ cấu hạ tầng DN Dệt May.
PTNNL bắt đầu từ những thay đổi nhất quán bắt buộc trong chính sách PTNNL và nâng cao trình độ quản lý NNL trong các DN. Tác giả xác định công việc trọng yếu là lựa chọn, tuyển dụng và đào tạo đúng người vào đúng thời điểm và đúng nơi; Các chương trình đào tạo phù hợp cho sự phát triển của nhân viên theo yêu cầu công nghiệp mà vẫn phù hợp với tôn giáo; cung cấp các cơ sở để nâng cao kỹ năng công nhân và quản lý để xây dựng và thực hiện đào tạo cho cấp giám sát có năng lực hơn, tập trung chủ yếu vào "thái độ và hành vi".2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước (1) Các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực (i) Với các tiếp cận từ góc độ triết học, TS. Nguyễn Thanh đã trình bày kết quả nghiên cứu về phát triển con người, PTNNL và vai trò của GD-ĐT đối với PTNNL trong cuốn “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước” 9 (2005), NXB Chính trị quốc gia. Trong cuốn sách này, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của ĐCSVN, tác giả trình bày quan niệm về phát triển con người, PTNNL, từ đó tác giả cho rằng NNL có vai trò quyết định đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam; trên cơ sở đó, tác giả đánh giá khái quát thực trạng NNL ở nước ta trên các khía cạnh số lượng, cơ cấu, trí lực, trình độ CMKT.
Từ đó tác giả đưa ra những định hướng PTNNL có chất lượng đáp ứng được đòi hỏi của CNH, HĐH bao gồm: gắn PTNNL với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH; gắn PTNNL với quá trình dân chủ hoá, nhân văn hoá đời sống xã hội; nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng cán bộ KH-CN; xây dựng chiến lược con người. Trong phần cuối của cuốn sách, tác giả làm rõ vai trò của giáo dục với tư cách là yếu tố quyết định trong chiến lược phát triển con người, PTNNL có chất lượng cho CNH, HĐH ở nước ta. (ii) Thượng tướng, VS.TS Nguyễn Huy Hiệu có bài nghiên cứu “Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI” (2011) đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 6/2011. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra tính cấp thiết trong việc GD-ĐT NNLCLC trên cơ sở thực trạng PTNNL ở nước ta trong thời gian qua.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng trên, từ đó đã đưa ra những giải pháp về GD-ĐT nhằm PTNNLCLC đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới [47].