đặt vấn đề giải quyết thị trường cho sản xuất nông nghiệp, cần đặt nó trong toàn bộ quá trình kinh doanh để xem xét và giải quyết. Sự phân tích, đánh giá thị trường sản phẩm đâu ra của sản xuất nông nghiệp cũng cần có sự phân tổ để có thể giải quyết vấn đề mạch lạc. Những phân tích đó giúp cho sự định hướng sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao nhất, cũng như trong bảo vệ các tài nguyên nông nghiệp. Với nhân tố lao động, đây là chủ đề là nguồn nhân lực trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất.
Do vậy muốn sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa thì không chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hóa giản đơn mà phải là những người có trình độ sản xuất kinh doanh, phải có tri thức làm giàu. Tri thức làm giàu bao gồm tri thức về khoa học kỹ thuật, về kinh tế, kinh doanh, thị trường, quản lý… Để đạt được điều đó, một mặt người lao động nông nghiệp phải 14 Luan van năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, mặt khác phải có sự trợ giúp của Nhà nước hỗ trợ đào tạo, nâng cao chất lượng lao động; quy hoạch và đầu tư, quản lý việc sử dụng lao động, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Cùng với đó, vấn đề về khả năng tích lũy và vốn đầu tư, điều kiện về kết cấu hạ tầng có những tác động không nhỏ đến KTNN. Đối với khả năng tích lũy và vốn đầu tư, trong KTNN khi người nông dân tiến hành sản xuất một số giống vật nuôi, cây trồng nào đó, việc khai thác các nguồn lực tự nhiên, tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật áp dụng khoa học công nghệ… đòi hỏi phải có vốn và năng lực tiết kiệm.
Vốn và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn có ảnh hưởng quan trọng, thậm trí theo một ý nghĩa nào đó, có tính quyết định đến việc nâng cao trình độ của sản xuất nông nghiệp để hướng tới sản xuất hàng hóa lớn. Còn đối với điều kiện kết cấu hạ tầng như: hệ thống giao thông vận tải, điện, thủy lợi, thồn tin liên lạc, chợ trung tâm thương mại, cơ sở chế biến… cũng có tác động quan trọng đến sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Nông sản hàng hóa sản xuất ra phải được bảo quản, vận chuyển kịp thời đến nơi tiêu dùng, chế biến (đặc biệt là hàng tươi sống) khi đó điều kiện giao thông, vận tải thuận lợi. Ngoài những nhân tố trên, trong nhóm nhân tố thuộc về điều kiện KTXH còn phải kể đến các nhân tố như sự phát triển của công nghiệp chế biến; loại sản phẩm cây trồng, vật nuôi; cơ chế quản lý của nền kinh tế… Với sản xuất nông nghiệp sự phát triển của công nghiệp chế biến một mặt giúp tiêu thụ dễ dàng các sản phẩm nông nghiệp, mặt khác còn làm tăng dung lượng tiêu thụ sản phẩm nói chung.
Sự tác động làm tăng dung lượng không chỉ thể hiện ở chỗ, bên cạnh lượng sản phẩm tiêu dùng trực tiếp, còn có một lượng lớn sản phẩm tiêu thụ bởi công nghiệp chế biến, mà sự tăng lên còn thể hiện ở khả năng kéo dài thời vụ tiêu thụ sản phẩm nhờ tác động của công nghiệp. Có thể coi các doanh nghiệp công nghiệp chế biến nông sản như những hạt nhân thúc 15 Luan van đẩy quá trình phát triển KTNN nói chung và sự phát triển nông nghiệp hàng hóa, vùng chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp nói riêng. Cơ chế quản lý nền kinh tế cũng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Thực chất các nhân tố thể chế, đường lối, chính sách là nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, tận dụng những mặt tích cực, giảm thiểu những mặt khuyết tật của cơ chế thị trường, nâng cao trình độ và hiệu KTXH của sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp.
Tuy nhiên, mỗi một thời kỳ, một giai đoạn khác nhau thì xu hướng phát triển và nhiều yếu tố tác động của KTXH, của thị trường cũng có sự thay đổi. Do đó, cơ chế quản lý cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thị trường nói chung và của KTNN nói riêng. QLNN đối với KTNN là một phạm trù rộng lớn và phức tạp, bởi lẽ nó có liên quan đến cơ chế, chính sách ở nhiều cấp, nhiều ngành, từ trung ương đến địa phương. Trong điều kiện hiện nay, khi mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương mục tiêu dân giàu, nước mạnh, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì các nhân tố kể trên có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nước nhà.
Vai trò của kinh tế nông nghiệp KTNN giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước, là chỗ dựa quan trọng cho kinh tế vươn lên. Với khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu nhập cho số đông người dân vì vậy mà ở các nước đang phát triển, vai trò của KTNN là rất lớn. Điều đó được thể hiện trên các mặt sau: 1. Kinh tế nông nghiệp tạo cơ sở, động lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đầu tiên ta có thể thấy, KTNN có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Điều đó được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây: 16 Luan van - Tại các nước đang phát triển thì nông nghiệp là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị.
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác, từ đó mà năng xuất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - KTNN còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quý cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến.
Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp tăng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, mở rộng thị trường… - KTNN là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao đông và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản v.v… trong đó thuế có vị trí rất quan trọng Tiếp theo đó, nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ quan trọng cho công nghiệp và dịch vụ phát triển. Công nghiệp và dịch vụ muốn duy trì phát triển, một vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải có thị trường tiêu thụ. Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Sự thay đổi về cầu trong 17 Luan van khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ KTNN, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp cũng như dịch vụ tăng, thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể canh tranh với thị trường trong và ngoài khu vực. Kinh tế nông nghiệp mang lại lương thực phẩm cho nhân dân, thức ăn chăn nuôi, tăng dự trữ đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam.
Ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỉ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tốt cần thiết đó là lương thực, thực phẩp. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển KTXH của đất nước. Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều này do tác động của hai nhân tố: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người.
Có thể thấy rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển KTXH là đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế quốc dân. Bởi vì, con người là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, mọi lĩnh vực hoạt động để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội đều do con người tiến hành, thực hiện. Nếu không đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm đáp ứng được nhu cầu về ăn uống, chất lượng dinh dưỡng và tái sản xuất ra sức lao động thì không thể tiến hành mọi hoạt động của xã hội được. Và thực tiễn lịch sử của các 18 Luan van nước trên thế giới chứng minh chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực.
Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định trong chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho đất nước dần tụt hậu. Sản xuất lương thực, thực phẩm không những nhằm đáp ứng nhu cầu để duy trì và cải thiện đời sống nhân dân, sản xuất ra sức lao động mà còn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, tạo điều kiện cho chăn nuôi phát triển. Kinh tế nông nghiệp phát triển theo yêu cầu sản xuất hàng hoá, hội nhập sẽ tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn.