phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC HỘ TỊCH 1. Khái niệm hộ tịch Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết.
Đó là các sự kiện: Khai sinh; Kết hôn; Giám hộ; Nhận cha, mẹ, con; Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; Khai tử; Thay đổi quốc tịch; Xác định cha, mẹ, con; Xác định lại giới tính; Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự và các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật. Các sự kiện hộ tịch bằng các giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Đây là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Giấy tờ về hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực tế thân trạng của mỗi công dân.
Đó là cơ sở pháp lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch. Trong đó, giấy tờ khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân do vậy tất cả các loại giấy tờ về hộ tịch đều phải thống nhất với giấy khai sinh của cá nhân người đó. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan đại diện Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp trong nước.
8 Do tính chất quan trọng như vậy của các giấy tờ về hộ tịch cho nên pháp luật có quy định chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, thủ tục, trình tự đăng ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch. Chính vì vậy, đăng ký hộ tịch là hành vi bắt buộc không chỉ đối với công dân mà còn đối với cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nƣớc về hộ tịch Quản lý nhà nước về hộ tịch là một nội dung của quản lý nhà nước do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền) thực hiện trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Quản lý nhà nước về hộ tịch là quá trình tổ chức, điều hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc đăng ký và quản lý hộ tịch nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và đáp ứng yêu cầu quản lý dân cư, phục vu cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý nhà nước về hành chính - tư pháp. Thông qua quản lý nhà nước về hộ tịch, nhà nước thực hiện quản lý đối với dân cư của mình. Mặt khác, thông qua quản lý nhà nước về hộ tịch, Nhà nước theo dõi thực trạng và những biến động của dân cư như: sinh, tử, kết hôn, ly hôn. Trên cơ sở đó Nhà nước xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình.
cho phù hợp với thực tế khách quan. Trong quản lý nhà nước về hộ tịch, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện những hoạt động như: Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về hộ tịch; ban hành, quản lý, hướng dẫn việc sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu hộ tịch; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về hộ tịch; tổ chức việc đăng ký hộ tịch; giải quyết khiếu nại, tố cáo về hộ tịch; hợp tác quốc tế về hộ tịch. 9 Hiện nay công tác quản lý hộ tịch được thực hiện theo Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 ngày 20/11/2014 do Quốc hội ban hành; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2016 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP. Quản lý nhà nước về hộ tịch có những đặc điểm sau: Một là, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong quản lý hộ tịch thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền đại diện ý chí nhà nước thực hiện quản lý hộ tịch bằng những phương thức khác nhau, trong đó việc ban hành văn bản quản lý nhà nước về hộ tịch là phương tiện cơ bản và chủ yếu nhất. Bằng việc ban hành văn bản quản lý nhà nước về hộ tịch, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh, chỉ đạo trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn, dưới dạng những thông tin hướng dẫn người dân để thực hiện việc đăng ký hộ tịch thông qua hệ thống của bộ máy quản lý nhà nước về hộ tịch. Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để đảm bảo thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, hòa giải. Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó, ý chí cùa chủ thể quản lý hộ tịch được đảm bảo thực hiện.
Hai là, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền quản lý hành chính nhà nước, đó là những cơ quan, 10 cá nhân có thẩm quyền, được trao quyền quản lý nhà nước về hộ tịch trong bộ máy nhà nước. Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch). Ba là, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ. Để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động hộ tịch, bộ máy các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý về hộ tịch được tổ chức thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương, nhờ đó hoạt động này được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay giữa các vùng miền khác nhau.
Tuy nhiên, do mỗi địa phương có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tạo ra sự năng động, sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý hộ tịch còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động, sáng tạo cho chính quyền địa phương. Bốn là, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành và điều hành. Tính chấp hành và điều hành của quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động, sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc trực tiếp tổ chức các hoạt động thực tiễn. trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
11 Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Trong quá trình đó, các chủ thể này không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả là họ đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý. Năm là, quản lý nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang tính liên tục. Quản lý nhà nước đối với hộ tịch luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội.
Chính đặc điểm đặc thù này được coi là cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức của bộ máy quản lý hộ tịch; tạo ra bộ máy quản lý hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức quản lý hộ tịch năng động, sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình. Quản lý nhà nước về hộ tịch có vai trò quan trọng: Một là, giúp cho việc quản lý các sự kiện liên quan đến mỗi cá nhân công dân, quản lý nhà nước đối với hộ tịch là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước vì nó liên quan trực tiếp tới quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân. Do vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã đưa ra các chủ trương, các biện pháp tổ chức thực hiện nhằm quản lý nhà nước đối với hộ tịch được thực hiện ngày càng hiệu quả.