Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di tích lịch sử - cách mạng. Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - cách mạng cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử - cách mạng cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - CÁCH MẠNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm di tích và phân loại di tích 1. Khái niệm di tích Trước khi tìm hiểu khái niệm di tích, phải hiểu về DSVH.
Theo quy định của Luật DSVH số 10/VBHN-VPQH thông qua ngày 27/7/2013 thì “DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [61]. Trong khái niệm này, thì DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể. DSVH vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm DTLS - VH, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Do đó, di tích là một bộ phận của DSVH vật thể. Theo nghĩa Hán Việt, “Di” nghĩa là sót lại, rớt lại, để lại; “Tích” là tàn tích, dấu vết [23]; “Di tích” được hiểu là những tàn tích, dấu vết còn để lại của quá khứ [23; tr. Theo giáo trình “Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa” của Trường Đại học Văn hóa, khái niệm di tích được định nghĩa như sau: “Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [54]. 9 Theo Luật Di sản văn hóa số 10/VBHN-VPQH, ta có khái niệm di tích là “công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”[61].
Trong đó, di vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”; cổ vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở nên”; bảo vật quốc gia được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học” [61]. Di tích gồm các bộ phận cấu thành sau đây: - Các công trình kiến trúc, địa điểm có liên quan tới các sự kiện lịch sử hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa. - Những đồ vật trong nội thất các công trình kiến trúc (vật d ng cá nhân, đồ tế tự trong các thiết chế văn hóa, tín ngưỡng.) - Môi trường cảnh quan thiên nhiên xem kẽ hoặc bao quanh di tích. - Những giá trị DSVH phi vật thể gắn với các công trình địa điểm đó.
Như vậy, Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hoá và lịch sử. Di tích là những bằng chứng có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại. Di tích chứa đựng giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi. Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, là nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử d ng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển [28; tr.
Phân loại di tích - Phân loại dựa vào đặc điểm, nội dung và hình thức của DT: Theo Điều 11 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH; DTLS - VH, danh lam thắng cảnh được phân ra thành 4 loại [21]. + Di tích lịch sử: bao gồm những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh. DTLS liên quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc. Di tích lịch sử được chia thành di tích lịch sử - văn hóa và di tích lịch sử - cách mạng.
+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: bao gồm quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và bố c c kiến trúc, sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ đẹp thánh thiện của những pho tượng cổ, ở nét chạm tinh xảo của những đồ thờ tự. + Di tích khảo cổ học: gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ. Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều di tích khảo cổ.
Các di tích, di vật khảo cổ học là nguồn sử liệu quan trọng giúp việc biên soạn lịch sử trái đất và lịch sử dân tộc từ thời tiền/sơ sử tới các thời kỳ lịch sử sau này. + Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ cao hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại, có giá 11 trị về lịch sử, văn hóa, khoa học. Danh lam thắng cảnh thường được kết hợp giữa công trình tôn giáo tín ngưỡng với cảnh quan thiên nhiên đẹp. - Phân loại di tích dựa vào giá trị về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học: di tích được chia thành ba loại: Di tích quốc gia đặc biệt; Di tích quốc gia; Di tích cấp tỉnh, thành phố.
+ Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ VH,TT&DL xếp hạng là di tích quốc gia. + Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL ra quyết định xếp hạng. + Di tích cấp tỉnh, thành phố: Di tích cấp tỉnh là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó hoặc cảnh quan thiên nhiên, địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học tiêu biểu của địa phương, Được xếp hạng theo quy định của pháp luật - là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương do Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định công nhận. Việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và các hình thức phân loại di tích có ý nghĩa quan trọng để xác định thái độ ứng xử đúng cho từng loại hình di tích.
Đây cũng là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống văn bản pháp luật trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH dân tộc. Tuy nhiên, trong đề tài này, tác giả chỉ chọn nghiên cứu về DTLS - CM, là một trong những đặc trưng của tỉnh Quảng Nam. - Phân loại di tích dựa vào cấp độ QL và chủ thể QL: di tích được chia thành 3 loại là Di tích do nhà nước trực tiếp QL; Di tích do cộng đồng dân cư trực tiếp QL; Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp QL. + Di tích do nhà nƣớc trực tiếp QL: là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các Ban QLDT được Nhà nước thành lập trực tiếp QL.
12 Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa. trực tiếp cho Ban QLDT. + Di tích do cộng đồng dân cƣ trực tiếp QL: là các di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh được giao cho tổ chức nhân dân trực tiếp QL như đình làng, các chùa, đền thờ. + Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp QL nhƣ: nhà thờ dòng họ, nhà ở trong các khu di tích, khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ.
Ngoài ra, phân loại di tích còn dựa trên điều kiện khai thác giá trị di tích. Theo cách phân loại này, di tích được phân thành 2 loại là di tích có khả năng khai thác và di tích chưa có khả năng khai thác. Khái niệm, đặc điểm di tích lịch sử - cách mạng 1. Di tích lịch sử - văn hóa Theo Điều 1 Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 04/4/1984 của Hội đồng Nhà nước về bảo vệ và sử d ng DTLS, văn hóa và danh lam, thắng cảnh (DTLS,VH) quy định rõ: DTLS, văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội.
Danh lam, thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình xây dựng cổ, đẹp nổi tiếng. Mọi DTLS, văn hoá và danh lam, thắng cảnh đều được Nhà nước bảo vệ.