Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH ĐỀN THỜ HAI BÀ TRƯNG Ở HUYỆN PHÚC THỌ 1. Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 1. Một số khái niệm liên quan 1. Di sản văn hóa Theo tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Di sản là cái thời trước để lại, còn văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [38, tr.
Năm 1972, UNESCO ban hành Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới, trong điều 1 đã quy định những loại hình sẽ được coi như là “di sản văn hóa” bao gồm: Di tích kiến trúc (monuments): Các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học. Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà có, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học [63, tr. Căn cứ vào khái niệm của công ước đã nêu ra trên đây, đền thờ Hai Bà Trưng xác định là di tích kiến trúc, trong đó có các kết cấu kiến trúc xuất phát từ quan điểm lịch sử, nghệ thuật. Theo Luật DSVH được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã nêu rõ: 12 DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [40, tr. Xét theo Luật DSVH và các khái niệm DSVH vật thể và phi vật thể, đền thờ Hai Bà Trưng ở xã Hát Môn được xem là DSVH vật thể, trong đó có các công trình kiến trúc, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình. Tuy nhiên, cùng với các giá trị vật thể là các giá trị văn hóa phi vật thể hàm chứa trong di tích cụ thể như lễ hội, phong tục, tín ngưỡng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [3, tr. Di tích lịch sử văn hóa 13 Theo tác giả Hoàng Phê cho rằng: “Di tích là các dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu.
Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa bất động” [38, tr. Theo giáo trình Bảo tồn DT LSVH: “Di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [21, tr. Tại điều I của Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và di chỉ. Đại hội quốc tế lần thứ hai, các kiến trúc sư và kỹ thuật gia về di tích lịch sử tại Venice, 1966 được Icomos chấp nhận năm 1965: Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [16, tr. Theo khoản 3, điều 4 của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2001 và được sửa đổi năm 2009 thì: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [40, tr. Theo tinh thần quốc tế, đền Hai Bà Trưng là một công trình kiến trúc phản ánh lịch sử/sự kiện lịch sử, đó là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào những năm 40 SCN giành được độc lập dân tộc, thể hiện ý chí quật cường của dân tộc. Theo tinh thần quốc gia, di tích đền thờ Hai Bà Trưng là công trình xây dựng, các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình.
Di tích quốc gia đặc biệt Ở nước ta, DT LSVH, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được xếp hạng theo thứ tự: Di tích cấp tỉnh/thành phố; di tích cấp quốc gia; di tích cấp 14 quốc gia đặc biệt. Trong mục 3, điều 29 của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009 có đề cập đến di tích quốc gia đặc biệt: “Di tích quốc gia đặc biệt là các di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; địa điểm khảo cổ học có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới [40, tr. Về thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích tại khoản 1 điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau: “Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào danh mục di sản thế giới” [40, tr. Theo khái niệm và tiêu chí để trở thành di tích quốc gia đặc biệt được nêu ra trong Luật DSVH, di tích đền thờ Hai Bà Trưng ở xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội đủ tiêu chuẩn xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Địa điểm và công trình kiến trúc này đã đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt trong lịch sử dân tộc, gắn liền với hai nữ anh hùng dân tộc tiêu biểu đã làm dạng rỡ dân tộc, đất nước ta ở những năm đầu công nguyên. Thông qua công trình kiến 15 trúc này và các giá trị tiêu biểu qua kiến trúc đã góp phần đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật dân tộc. Quản lý Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”.
Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ thống sẽ phát triển không bền vững. Nhìn chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng. Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau” [24, tr.
Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý: Theo Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo. Theo Haror Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định. Theo Mariparker Follit (1868 - 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”. 16 Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ lâu nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện.
Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.