CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC LÀNG GỐM TRUYỀN THỐNG KHU VỰC MIỀN TRUNG 1. Khái quát về nghề gốm và làng gốm truyền thống Việt Nam Nghiên cứu văn hóa Bắc Sơn, sông Hồng, sông Mã, sông Côn, sông Đồng Nai, hệ thống sông ngòi đồng bằng sông Cửu Long…, các nhà khoa học chỉ ra rằng: Gốm đã xuất hiện cách nay hơn một vạn năm và được phân bố dọc dài theo hệ thống châu thổ các sông. Tùy từng địa hình cụ thể, theo khả năng cung cầu mà việc chế tác gốm dần trở thành một nghề và thành làng nghề khi nhiều người cùng tham gia để đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội và nhu cầu tiêu dùng. Ở thời kỳ đầu (Bắc Sơn), xương gốm được nhào từ đất sét với cát, có lẫn tạp chất.
Mặt gốm sau nung thường gồ ghề đôi chỗ còn nổi rõ những vệt cát lớn. Loại gốm này chủ yếu dùng trong sinh hoạt đời thường sau khi phơi. Thời gian dài sau mới biết dùng lửa nâng cao độ bền bằng phương pháp nung giúp cho sản phẩm không bể, không thấm nước. Từ các miêu thuật qua báo cáo khoa học, thấy nhiều lõi than trong xương gốm nên đã có nhận định khả năng người thợ thời đó đã đan tre tạo hình rồi đắp đất trong, ngoài trước khi nung.
Sự tiến bộ mang tính đột phá của gốm bắt đầu từ lúc phát minh ra bàn xoay và sau đó sử dụng phổ biến vào thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên. Khi đất đã làm kỹ, đặt lên bàn xoay, người thợ chỉ cần ngồi một chỗ để tạo hình, vẽ hoa văn và gốm đã đạt yêu cầu chất lượng tốt hơn, có tính mỹ thuật hơn. Thời Bắc thuộc, gốm men đã xuất hiện nhưng vẫn song song tồn tại các loại gốm có phần cao cấp hơn như: gốm nung màu trắng hồng hay sữa đục; gốm sành có xương gốm màu cánh gián nhạt, hay xám xanh; gốm men từ sành tráng thêm men màu đỏ hay xám xanh. Loại này bằng chất liệu đất sét trắng, xương mỏng, có độ rắn búng vào phát âm thanh trong.
Từ thế kỷ 11 đến 13 (thời Lý), gốm men ngọc bắt đầu xuất hiện và thịnh hành. Đây là loại sành trắng hoặc sành xốp được phủ một lớp men màu. Loại men màu này đa dạng màu sắc nhìn bắt mắt, có loại chuyên được sử dụng trong cung cấm và xuất khẩu. Trong khoảng thế kỷ 12-14, gốm hoa nâu xuất hiện cuối thời Lý đầu thời Trần 10 được làm từ đất sét trắng và cao lanh, có vị trí chiếm lĩnh thị trường nội địa lớn.
Loại gốm này được tráng men màu trắng ngà, hoa văn nâu, kiếu dáng thô, dày. Khi gốm hoa lam xuất hiện thì loại gốm này dần lui vào quên lãng. Trở lại tiến trình phát triển có thể hình dung từng bước phát triển của các dòng gốm như sau: - Ở giai đoạn đầu Đá Mới, Đa Bút, Quỳnh Văn,… gốm được nung trong thời gian ngắn ngoài trời trong đống củi lửa. Đến giữa và cuối thời kỳ Đá Mới, sơ kỳ Đồng Thau gốm đã được nung trong lò thô sơ, đơn giản như lợi dụng mô đất, khoét rộng rồi xếp gốm cùng củi để đốt, khi lửa tàn thì gốm cũng chín.
Đến thời kỳ Đồng Thau, sơ kỳ Đồ Sắt, gốm đã được nung trong lò gồm ngăn đốt và ngăn nung. Khi tắt lửa, gốm còn được nung ủ thêm thời gian nữa. - Lịch sử tiến trình hình thành và phát triển của nghề gốm truyền thống tuy khá dài nhưng đến nay vẫn chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với hàng chục ngàn làng nghề truyền thống trong cả nước. Nguyên nhân chính vẫn là phụ thuộc vào cung - cầu, vào cả khả năng, kỹ thuật chế tác.
Nhìn vào tiến trình gốm trong lịch sử có thể hình dung tiến trình phát triển từ gốm thô, gốm đất nung rồi đến bước cao hơn là gốm men, đồ sứ. - Trong thời kỳ công nghiệp, hóa chất phát triển, các sản phẩm phục vụ đời sống, sản xuất được đổi mới, tạo hình đẹp phù hợp, thích ứng cho người tiêu dùng nên nghề gốm truyền thống đã không theo kịp bước chuyển hóa của thời đại càng bị ảnh hưởng, mai một, xuống cấp trầm trọng. Qua nghiên cứu thực địa, 14 làng nghề gốm cổ truyền còn đang được nhắc đến nhiều trong các ấn phẩm được lưu giữ trong sử sách có vai trò lớn với từng vùng, bao gồm những làng nghề còn đang hoạt động như: Làng gốm Thanh Hà (Hội An, Quảng Nam), Làng gốm Phước Tích (Thừa Thiên - Huế), Làng gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội) Làng gốm Chu Đậu (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), Làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), Làng gốm Tân Vạn (Biên Hòa, Đồng Nai), Làng gốm Bàu Trúc (Bình Thuận), Làng gốm Lái Thiêu, Làng gốm Chánh Nghĩa, Làng gốm Tân Phước Khánh (Bình Dương), Làng gốm Vĩnh Long (Vĩnh Long). Nhiều nơi nghề gốm cổ truyền đã suy tàn, nhiều nơi gần như xóa sổ chỉ còn lại trong câu chuyển kể cùng tiềm thức tiếc nuối của các 11 bậc cao tuổi, bao gồm Làng gốm Thổ Hài (Bắc Ninh), Làng gốm Cây Mai (Thành phố Hồ Chí Minh).
Như vậy là bức tranh GỐM của Việt Nam khá phong phú và nhộn nhịp vì bắt đầu “Bên cạnh việc sản xuất những đồ gốm phục vụ cho nhu cầu của thị trường trong nước, từ thế kỷ XIV, Việt Nam đã chính thức tham gia vào mạng lưới xuất khẩu đồ gốm qua con đường gốm sứ trên biển. Các thời kỳ sau đó, thời Lê sơ (thế kỷ XV), thời Lê trung hưng (thế kỷ XVII), Việt Nam cũng đã xuất khẩu một số lượng lớn đồ gốm sứ sang thị trường Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Tây Á… Thời kỳ này có rất nhiều làng gốm chuyên làm đồ gốm men. Riêng ở Hải Dương có 7 làng chuyên sản xuất đồ gốm men, đó là Chu Đậu - Mỹ Xá (huyện Nam Sách), Ngói, Cậy, Láo, Bá Thủy, Hợp Lễ (huyện Bình Giang). Trung tâm gốm Bát Tràng (làng Bát Tràng và Kim Lan hiện nay) vẫn duy trì và phát triển khá phồn thịnh trong giai đoạn này”.
Mô hình gốm thế kỷ I-III Đồ gốm thế kỷ I-III Đồ gốm thế kỷ I-III Chất liệu Gốm Hoa lam. Niên đại Chất liệu Gốm men ngọc. Niên Chất liệu Gốm hoa lam, niên thế kỷ XIV đại Thế kỷ XIII -XIV đại thế kỷ XV Chất liệu Gốm. Niên đại thế kỷ VI Chất liệu Gốm men trắng.
Niên Chất liệu Gốm hoa nâu. Niên đại Thế kỷ XII-XIII đại Thế kỷ XIII-XIV Hình 1.1: Minh họa các sản phẩm gốm Việt Nam qua các thời kỳ Cơ hội may mắn cho một số làng nghề gốm truyền thống khi kịp thời thoát khỏi tính ràng buộc khuôn mẫu đã áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất trên nền truyền thống 12 xưa để cho ra những mẫu mã đa dạng, những sản phẩm mới đẹp, bền, thích nghi đời sống. Nhiều trung tâm sản xuất gốm xuất khẩu mới ra đời và phát triển nhanh cả về quy mô và tốc độ. Tiếp theo các thế kỷ sau và đến hiện nay công nghệ mới đã đáp ứng được cuộc sống hiện đại thêm nhiều giá trị về văn hóa, nhân văn, giá trị thẩm mỹ… được người tiêu dùng chấp nhận, không thể thiếu vắng trong mỗi gia đình.
Trong công nghiệp lại đáp ứng được các công cụ, vật liệu cách điện, chịu được hóa chất bào mòn, đáp ứng các nhu cầu xây dựng công nghệ cao, đảm bảo tính thân thiện với môi trường… Nhờ vậy tạo nên sự thịnh vượng của cả làng nghề gốm truyền thống. Tiêu biểu nhất ở vùng châu thổ sông Hồng là làng gốm truyền thống Bát Tràng đã có nhiều áp dụng kỹ thuật mới khi dùng lò ga thay lò củi - than, dùng vật liệu cao lanh, đất sét trắng làm xương gốm, dùng men tráng trong - ngoài có trang trí hoa văn hấp dẫn… để tạo nên sản phẩm phong phú, đa dạng phù hợp nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Khái quát các làng gốm truyền thống khu vực miền Trung 1. Những đặc điểm chung Về địa lý, địa hình: Đây là nơi giao hòa giữa cao nguyên và biển dù nhiều khi bất lợi vào mùa mưa lụt nhưng chỉ trong thời gian ngắn.
Thời tiết khí hậu nắng, gió, mưa bão, lũ lụt… nhìn chung phù hợp với khả năng chống chịu của con người. Đặc biệt, mạng lưới sông ngòi đa dạng, phong phú phù sa chính là nguồn nguyên liệu dồi dào cho nghề gốm truyền thống. Với đặc điểm cấu tạo địa hình như vậy, không gian văn hóa vùng duyên hải miền Trung thường bao hợp cả không gian văn hóa biển đảo, văn hóa duyên hải, văn hóa nông thôn đồng bằng và văn hóa miền núi – trung du. Chính những vấn đề này tác động đến làng gốm và nghề gốm truyền thống góp phần lý giải về sự tồn tại, phát triển nghề gốm truyền thống của cả người Chăm và người Việt trong quá khứ cũng như đương đại.
[71] Vùng đất từ Thừa Thiên Huế vào đến Bình Thuận, thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên trở về trước thuộc cư dân Sa Huỳnh. Phía Bắc giao lưu với Trung Hoa, phía Nam buôn bán với Ấn Độ. Họ là cư dân năng động có tầm nhìn sâu sắc về biển tạo nên nền 13 văn hóa Sa Huỳnh. Họ để lại nhiều chứng tích về sự sáng tạo trong chế tác gốm thô.
Loại chum lớn dùng trong mai táng, loại nhỏ dùng trong sinh hoạt và cả cho đồ minh khí phục vụ táng tục. Từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 15, người Chăm phát huy các giá trị văn hóa, kỹ thuật gốm của cư dân Sa Huỳnh tiếp tục phát triển làm nên nền văn hóa Champa rực rỡ. Gốm Champa biểu hiện về sự kết nối, tiếp biến, thích nghi nâng tầm cao mới trong sử dụng, xuất khẩu đem lại những lợi ích về kinh tế cho người làm gốm và là nguyên nhân chính trong bảo tồn, phát triển duy trì nghề liên tục đến nay. Vùng Duyên hải Miền Trung 9 tỉnh hiện nay có số dân là 12.000 người, diện tích 49.2: Cấu trúc làng truyền thống điển hình KVMT 14 Cấu trúc làng xã: Cấu trúc tổ chức làng xã khu vực Trung Bộ không mang tính “đóng” như ở đồng bằng Bắc Bộ, nhưng cũng không mang tính “mở” như làng xã Nam Bộ và dễ dàng biến đổi dưới các tác động của xã hội xung quanh.
Các làng rải rác trên diện rộng bám theo các đường giao thông chính theo dạng chuỗi, điểm theo trục giao thông hoặc bám theo địa hình sông kênh. Điểm nổi bật là các làng xóm cư dân nằm rải rác tự nhiên đều trên mặt bằng canh tác, các hệ san sát nhau tiếp nối theo các đường làng ngõ xóm. Là những cộng đồng cấu trúc vừa đóng vừa mở.