Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kiến trúc với đề tài “Tổ chức không gian kiến trúc làng gốm truyền thống khu vực miền Trung Việt Nam” được nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Nguyên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.KTS Đặng Đức Quang tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (năm 2024, chuyên ngành Kiến trúc, mã số 9580101).

Nghề gốm truyền thống ở miền Trung Việt Nam có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ nền văn hóa Sa Huỳnh (tồn tại từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến thế kỷ thứ II sau Công nguyên) và được truyền lại qua văn hóa Champa từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ XV, tiếp nối qua các đợt di dân từ thế kỷ XV từ vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh vào phía Nam. Làng gốm truyền thống là nơi lưu giữ không gian văn hóa truyền thống và di sản văn hóa không thể tái tạo. Dưới tác động nhanh của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa và áp lực kinh tế thị trường, các làng gốm truyền thống khu vực miền Trung đang đối mặt với nguy cơ biến dạng cấu trúc, phá vỡ hình thái không gian, mai một hoạt động sản xuất thủ công và suy thoái môi trường cảnh quan.

Chính phủ đã ban hành Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07/7/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, trong đó xác định hai nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm: [1] Bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, làng nghề truyền thống; [2] Phát triển làng nghề gắn với du lịch và xây dựng nông thôn mới. Khoảng trống nghiên cứu thực tế là các làng gốm truyền thống miền Trung có tính đặc thù cao về vị trí địa lý, kỹ thuật sản xuất, quy mô và ranh giới nhưng chưa được nghiên cứu hệ thống hóa về cấu trúc không gian kiến trúc; thiếu cơ sở khoa học để xác định ranh giới bảo tồn thích ứng; thiếu giải pháp tổ chức không gian cư trú kết hợp sản xuất và dịch vụ du lịch.

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đề xuất giải pháp về tổ chức không gian kiến trúc làng và kiến trúc nhà ở tại các làng gốm truyền thống khu vực miền Trung, nhằm: gìn giữ và phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa kiến trúc truyền thống; tăng cường tiếp cận, thúc đẩy phát triển thích ứng; nâng cao điều kiện sống, sinh kế cho người dân làng nghề; bảo vệ cảnh quan, không gian và môi trường góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
  • Đối tượng nghiên cứu: Không gian kiến trúc làng, kiến trúc nhà ở tại các làng gốm truyền thống khu vực miền Trung.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi không gian: Vùng duyên hải miền Trung và Thừa Thiên Huế (gồm 8 tỉnh, thành: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), trực tiếp khảo sát và nghiên cứu 13 làng gốm truyền thống.
    • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về không gian kiến trúc của các làng gốm truyền thống đến năm 2030 và tầm nhìn 2050.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả phân chia các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước thành hai nhóm chính:

  • Nhóm các đề tài nghiên cứu về tổ chức không gian làng: Tập trung vào các quy luật hình thành, biến đổi hình thái điểm dân cư nông thôn truyền thống Việt Nam; cấu trúc không gian làng xã vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ; các nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất và chỉ tiêu kiến trúc cảnh quan nông thôn theo tiêu chuẩn quốc gia.
  • Nhóm các đề tài nghiên cứu về làng gốm truyền thống: Bao gồm các công trình lịch sử, khảo cổ học về các trung tâm gốm cổ qua các thời kỳ (Bắc Sơn, Đa Bút, Quỳnh Văn, Phùng Nguyên, Lý, Trần, Lê); các nghiên cứu về những làng gốm tiêu biểu của miền Bắc (Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Thổ Hà), miền Nam (Tân Vạn, Lái Thiêu, Chánh Nghĩa, Cây Mai, Vĩnh Long); các bài viết khảo sát riêng lẻ về gốm Sa Huỳnh, Champa, làng Phước Tích, làng Thanh Hà, làng Bàu Trúc.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Tác giả điểm lại mô hình bảo tồn và phát triển làng nghề tại Nhật Bản (làng gốm Ontayaki, làng gốm Tokoname, tuyến phố Oribe) và Ấn Độ (làng thủ công mỹ nghệ Shilpgram, làng Belapur của kiến trúc sư Charles Correa, làng Khamir, trung tâm văn hóa nghệ thuật Kendra).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước chủ yếu tiếp cận làng gốm dưới góc độ lịch sử mỹ thuật, dân tộc học, văn hóa học hoặc quy hoạch nông thôn tổng quát. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu toàn diện hình thái không gian kiến trúc đặc thù của mạng lưới làng gốm duyên hải miền Trung dưới tác động kép của đô thị hóa và du lịch dịch vụ. Luận án giải quyết khoảng trống về phương pháp xác định ranh giới bảo tồn thích ứng và mô hình chuyển hóa mặt bằng nhà ở kết hợp ba chức năng: ở - sản xuất gốm - dịch vụ du lịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích:
    • Khung pháp lý: Luật Di sản văn hóa; Nghị định số 52/2018/NĐ-CP (khoản 1 Điều 3 quy định về nghề truyền thống, khoản 3 Điều 3 quy định về làng nghề truyền thống); Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ; các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng điểm dân cư nông thôn.
    • Khung lý thuyết: Lý thuyết tổ chức không gian làng nghề; lý thuyết mô hình định cư nông thôn; các nguyên tắc thiết kế bảo tồn di sản thích ứng.
    • Khung phân tích cấu trúc không gian làng: Cấu trúc không gian làng được phân tích thông qua ba thành phần hình học: điểm (kết cấu công trình kiến trúc), đường (kết cấu mạng lưới đường giao thông) và mặt phẳng (kết cấu ô đất).
    • Khái niệm ranh giới: Phân định giữa ranh giới tự nhiên (núi, sông ngòi, mặt nước) và ranh giới nhân tạo (đường giao thông, đất canh tác, nhà ở). Luận án xác định ranh giới bảo tồn thích ứng gắn liền với địa bàn thực tế của các hộ làm nghề và di tích tín ngưỡng, không nhất thiết đồng nhất hoàn toàn với ranh giới hành chính của xã, phường.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án áp dụng kết hợp 7 phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích không gian:
    1. Phương pháp khảo sát hiện trạng: Điều tra thực địa tại 13 làng gốm miền Trung về bố trí dân cư, công trình tín ngưỡng, mặt bằng nhà xưởng, lò nung và hộ gia đình.
    2. Phương pháp dự báo: Dựa vào dữ liệu hiện trạng để tính toán, dự báo nhu cầu tương lai về chức năng mới trong sinh hoạt, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ du lịch.
    3. Phương pháp sơ đồ hóa: Mô tả và mô hình hóa cấu trúc không gian, phân cấp giao thông, chuỗi dây chuyền sản xuất và các mối liên hệ cộng đồng - riêng tư.
    4. Phương pháp chồng lớp bản đồ: Phân tích dữ liệu không gian theo thời gian nhằm nhận diện sự biến đổi hình thái và sự chuyển dịch của các khu vực sản xuất gốm trong làng.
    5. Phương pháp phân tích và tiếp cận hệ thống: Thu thập, phân tích tài liệu thứ cấp, liên kết các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội với hình thái kiến trúc.
    6. Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu, tham vấn ý kiến chuyên môn từ các chuyên gia kiến trúc và nhà nghiên cứu bảo tồn.
    7. Phương pháp thống kê, đối chiếu: Cơ cấu dữ liệu khảo sát, phân loại các làng gốm theo hình thái không gian, số hộ làm nghề và quy mô đón tiếp du khách.
  • Nguồn tư liệu, dữ liệu: Số liệu điều tra thực địa tại 13 làng gốm thuộc 8 tỉnh miền Trung; các bản đồ địa chính, quy hoạch địa phương; các chỉ tiêu sử dụng đất điểm dân cư nông thôn theo quy chuẩn hiện hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về không gian kiến trúc làng gốm truyền thống khu vực miền Trung

Chương 1 khái quát tiến trình kỹ thuật của nghề gốm Việt Nam từ thời kỳ đồ đá mới (nung củi ngoài trời ở văn hóa Bắc Sơn, Đa Bút, Quỳnh Văn), qua thời kỳ đồ đồng (bàn xoay ở văn hóa Phùng Nguyên, lò nung có ngăn đốt và ngăn nung), đến thời Lý (gốm men ngọc), thời Trần (gốm hoa nâu làm từ đất sét trắng và cao lanh), thời Lê sơ và Lê trung hưng (gốm hoa lam tham gia mạng lưới xuất khẩu đường biển từ thế kỷ XIV đến XVII).

Về mặt địa lý, các làng gốm duyên hải miền Trung phân bố dọc hệ thống sông ngòi giàu phù sa ("nhất cận thị, nhị cận giang"), chịu ảnh hưởng sâu sắc từ không gian văn hóa Sa Huỳnh và Champa, kết hợp với các đợt di dân từ thế kỷ XV. Cấu trúc làng xã miền Trung mang đặc tính "vừa đóng vừa mở": tính mở thể hiện ở ranh giới tự nhiên linh hoạt, ít có cổng làng kiên cố như Bắc Bộ; tính đóng thể hiện ở mối liên kết cộng đồng chặt chẽ, dân chủ và bình đẳng.

Luận án thống kê và khảo sát 13 làng gốm truyền thống tại 8 tỉnh duyên hải miền Trung:

STT Tên làng gốm Tỉnh / Thành phố Phân loại hình thái bố cục Phân loại nhóm hoạt động
1 Phước Tích Thừa Thiên Huế Co cụm - tập trung Nhóm 1 (Phát triển du lịch)
2 Mỹ Xuyên Thừa Thiên Huế Tuyến / Chuỗi điểm Nhóm 3 (Không còn hộ sản xuất)
3 Thanh Hà Quảng Nam Co cụm - tập trung Nhóm 1 (Phát triển du lịch)
4 Phổ Khánh Quảng Ngãi Tuyến dọc - ngang Nhóm 2 (Còn ít hộ sản xuất)
5 Mỹ Thiện Quảng Ngãi Chuỗi điểm Nhóm 2 (Còn ít hộ sản xuất)
6 Vân Sơn Bình Định Tuyến dọc - ngang Nhóm 1 (Phát triển du lịch)
7 Trà Quang Nam Bình Định Chuỗi điểm Nhóm 2 (Còn ít hộ sản xuất)
8 Quảng Đức Phú Yên Tuyến dọc bờ sông Nhóm 3 (Không còn hộ sản xuất)
9 Trường Thịnh Phú Yên Tuyến dọc trục đường Nhóm 1 (Phát triển du lịch)
10 Lư Cấm Khánh Hòa Co cụm / Tuyến Nhóm 2 (Còn ít hộ sản xuất)
11 Trung Dõng Khánh Hòa Tuyến bám đồng ruộng Nhóm 2 (Còn ít hộ sản xuất)
12 Bàu Trúc Ninh Thuận Co cụm - tập trung Nhóm 1 (Phát triển du lịch)
13 Bình Đức Bình Thuận Co cụm / Chuỗi điểm Nhóm 2 (Còn ít hộ sản xuất)

Tình hình hoạt động nghề gốm chia thành 3 nhóm:

  • Nhóm 1 (Các làng phát triển du lịch): Còn nhiều hộ sản xuất kết hợp du lịch cộng đồng, bao gồm Thanh Hà, Bàu Trúc, Trường Thịnh, Vân Sơn. Tại Bàu Trúc, phụ nữ Chăm giữ vai trò kỹ thuật chính với thao tác "đánh vòng" (đi giật lùi quanh khối đất để tạo hình mà không dùng bàn xoay).
  • Nhóm 2 (Các làng còn ít hộ sản xuất): Gồm Mỹ Thiện, Trà Quang Nam, Lư Cấm, Trung Dõng, Bình Đức. Điển hình tại Mỹ Thiện, năm 1982 từng có hợp tác xã với 200 thợ gốm, nhưng đến năm 2018 chỉ còn lại một chủ lò duy nhất là nghệ nhân Đặng Văn Thịnh hoạt động cầm chừng; làng Trung Dõng chỉ còn 1 hộ dù được nhà nước hỗ trợ thiết bị.
  • Nhóm 3 (Các làng không còn hộ sản xuất hoặc còn rất ít): Gồm Quảng Đức và Mỹ Xuyên. Tại Quảng Đức, toàn bộ người dân đã bỏ nghề gốm và chuyển sang đúc chậu xi măng.

Các biến đổi không gian kiến trúc:

  • Chuyển đổi mục đích sử dụng công trình công cộng: Trụ sở hợp tác xã, nhà kho cũ bị chuyển đổi thành trường học, nhà trẻ.
  • Chuyển dịch không gian: Làng Thanh Hà thu hẹp sản xuất vật liệu xây dựng toàn làng, co cụm khu sản xuất gốm mỹ nghệ về dải ven sông phục vụ du lịch. Làng Trường Thịnh chuyển dịch nhà xưởng từ trung tâm làng ra bám dọc tuyến đường giao thông chính, hình thành tuyến phố kinh doanh.
  • Mở rộng và lấp đầy không gian: Các làng ven đồng ruộng (Trung Dõng, Vân Sơn) mở rộng đất ở ra khu vực canh tác; các làng ven sông (Thanh Hà, Phước Tích) không thể mở rộng ranh giới ngoài nên tăng mật độ xây dựng bên trong. Xu hướng tách hộ và bổ sung công năng du lịch khiến sân phơi, vườn cây bị lấp đầy bởi các xưởng trải nghiệm (Thanh Hà) hoặc nhà trưng bày sản phẩm (Bàu Trúc).
  • Hình thành trung tâm dịch vụ mới: Xuất hiện Công viên đất nung Thanh Hà (rộng khoảng 6.000m2), nhà trưng bày mẫu gốm Phước Tích, nhà trưng bày Hợp tác xã gốm Bàu Trúc.
  • Bất cập hạ tầng và kiến trúc: Thiếu bãi đỗ xe (làng Thanh Hà bãi xe chỉ chứa khoảng 15 xe 35 chỗ, trong khi ngày cao điểm đón tới 1.000 khách); thương mại tự phát làm biến dạng mặt tiền đường làng; lò nung xây dựng phân tán gây ô nhiễm khói bụi (lò úp, lò ngửa chữ nhật, lò ngửa tròn, nung mở bằng củi ở Bàu Trúc); các công trình tín ngưỡng (đình, miếu thờ Tổ nghề gốm) thiếu công trình vệ sinh và chưa kết nối đồng bộ vào luồng tuyến du lịch.

Chương 2: Cơ sở khoa học về tổ chức không gian kiến trúc các làng gốm truyền thống khu vực miền Trung

Chương 2 trình bày hệ thống văn bản pháp lý, quy chuẩn xây dựng điểm dân cư nông thôn (tiêu chuẩn sử dụng đất, đất xây dựng theo các bảng 2.1, 2.2 trong văn bản) và lý thuyết bảo tồn thích ứng.

Về mặt tự nhiên và văn hóa, làng gốm miền Trung phân bố dọc theo các con sông lớn mang lại nguồn đất sét phù sa dồi dào. Nghề gốm gắn với cấu trúc cộng đồng gia đình, dòng họ, tín ngưỡng thờ Thành hoàng và miếu thờ Tổ nghề gốm. Về kỹ thuật nung, vùng miền Trung tồn tại các loại lò nung đặc trưng (Bảng 2.5): lò úp, lò ngửa hình chữ nhật, lò ngửa hình tròn, và kỹ thuật nung mở lộ thiên bằng củi tại Bàu Trúc và Bình Đức.

Luận án nghiên cứu các bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước:

  • Kinh nghiệm trong nước: Làng gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) với quy hoạch phân khu chức năng sử dụng đất rõ ràng giữa vùng cư trú và vùng sản xuất tập trung; làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) với quá trình chuyển đổi kỹ thuật từ lò than/củi sang lò gas và hình thành các tuyến phố gốm thương mại.
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Làng Ontayaki (Nhật Bản): Bảo tồn cấu trúc sản xuất gia đình kết hợp nguồn thủy lực tự nhiên để giã đất sét ven suối.
    • Làng Tokoname và phố Oribe (Nhật Bản): Quy hoạch đường đi bộ khám phá di sản gốm, chuyển đổi lò nung cổ thành điểm tham quan, tổ chức chợ nghệ nhân và tuyến đường lễ hội.
    • Làng Shilpgram (Ấn Độ): Tổ chức không gian cụm nghệ nhân phân tán theo địa hình tự nhiên.
    • Làng Belapur (Ấn Độ của KTS Charles Correa): Tổ chức các cụm nhà ở vây quanh sân chung theo mô hình phân tầng bậc không gian từ công cộng, bán công cộng đến riêng tư.
    • Làng Khamir và Trung tâm văn hóa Kendra (Ấn Độ): Mô hình tích hợp đồng bộ giữa không gian ở của nghệ nhân, xưởng chế tác thực nghiệm, khu lưu trú nghệ sĩ và nhà triển lãm sản phẩm.

Chương 3: Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc làng gốm truyền thống khu vực miền Trung

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp quy hoạch và thiết kế kiến trúc:

  • Quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc: Bảo tồn tính xác thực của cấu trúc không gian di sản; kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế du lịch; phân loại giải pháp theo 3 nhóm hiện trạng hoạt động; phân vùng kiểm soát không gian kiến trúc và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng bảo tồn và phát triển (Bảng 3.1): Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng và định tính bao gồm 4 nhóm chính:
    1. Nhóm tiêu chí về giá trị lịch sử, văn hóa và di sản nghề gốm.
    2. Nhóm tiêu chí về đặc trưng hình thái cấu trúc không gian và cảnh quan kiến trúc.
    3. Nhóm tiêu chí về năng lực sản xuất, quy mô hộ nghề và số lượng nghệ nhân.
    4. Nhóm tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật, khả năng tiếp cận và tiềm năng khai thác du lịch.
  • Giải pháp xác lập ranh giới bảo tồn thích ứng: Luận án đề xuất phương pháp xác định ranh giới bảo tồn không phụ thuộc vào ranh giới hành chính cơ học, mà khoanh vùng dựa trên mật độ phân bố thực tế của các hộ gia đình làm gốm, nghệ nhân và hệ thống công trình tín ngưỡng. Cấu trúc phân khu gồm:
    • Vùng bảo tồn nghiêm ngặt (Vùng lõi): Khu vực tập trung các xưởng gốm truyền thống lâu đời, di tích miếu Tổ nghề, đình làng và cảnh quan mặt nước nguyên bản.
    • Vùng đệm chỉnh trang: Khu vực chuyển tiếp, kiểm soát tầng cao, mật độ xây dựng và hình thức kiến trúc nhà ở kết hợp dịch vụ.
    • Vùng phát triển mới: Bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối, bãi đỗ xe trung chuyển, trung tâm giới thiệu sản phẩm và trạm xử lý chất thải.
  • Giải pháp tổ chức không gian theo 3 dạng hình thái:
    • Dạng co cụm - tập trung: Thiết lập mạng lưới giao thông tuần hoàn khép kín; kết nối bến thuyền ven sông với trung tâm dịch vụ; bảo vệ hành lang xanh và vùng trũng tự nhiên.
    • Dạng tuyến: Tách luồng giao thông đối ngoại cơ giới ra khỏi trục đi bộ làng nghề; bố trí các điểm dừng chân, bãi đỗ xe trung chuyển tại các điểm đầu mối giao cắt.
    • Dạng chuỗi điểm: Xây dựng tuyến đường cảnh quan kết nối các cụm xóm nghề rời rạc; thiết lập các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và trưng bày chung cho cụm điểm.
  • Giải pháp tổ chức không gian nhà ở kết hợp sản xuất và dịch vụ:
    • Thiết lập cơ chế phân vùng không gian theo trật tự: Công cộng (khu trưng bày sản phẩm, quầy bán hàng) $\rightarrow$ Không gian tiếp cận mềm (sân trải nghiệm vuốt nặn, đón tiếp khách) $\rightarrow$ Bán riêng tư (khu vực chuốt gốm, sân phơi, lò nung) $\rightarrow$ Riêng tư (khu sinh hoạt gia đình, phòng ngủ, bếp).
    • Đề xuất các mẫu sơ đồ mặt bằng: Nhà bố cục 1 dãy, nhà 2 dãy, nhà có không gian sản xuất phía sau, nhà có không gian sản xuất phía bên, nhà song song; giải pháp mở rộng không gian theo chiều cao (bố trí gác lửng, tầng áp mái) và tổ chức nội thất đa năng cho các hộ có diện tích hạn chế.
  • Giải pháp không gian công cộng, tín ngưỡng và cảnh quan:
    • Thiết lập tuyến lễ hội kết nối hệ thống công trình tín ngưỡng truyền thống (đình làng, chùa, miếu thờ Tổ nghề gốm) với các công trình công cộng mới (nhà cộng đồng, công viên/bảo tàng gốm).
    • Cải tạo hạ tầng kỹ thuật: Bố trí các trạm xe trung chuyển du khách ngoài ranh giới lõi làng nghề; quy hoạch hệ thống thu gom nước thải làm gốm; đề xuất mô hình lò nung cải tiến hoặc lò nung tập trung có ống khói xử lý bụi than.
  • Nghiên cứu áp dụng tại làng gốm Thanh Hà (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam):
    • Đánh giá tiềm năng bảo tồn theo bộ tiêu chí (Bảng 3.6).
    • Xác lập ranh giới bảo tồn mới bám sát dải dân cư làm nghề ven sông Thu Bồn thay cho ranh giới hành chính phường Thanh Hà.
    • Phân khu chức năng bảo tồn - chỉnh trang: Chỉnh trang trạm trung chuyển xe du lịch tại lối vào nhằm giải quyết tình trạng quá tải của bãi xe 15 chỗ; tổ chức tuyến đi bộ văn hóa kết nối Công viên đất nung Thanh Hà, bến thuyền du lịch, miếu Tổ nghề gốm và các hộ gia đình nghệ nhân tiêu biểu (như nhà ông Lê Quốc Tuấn, ông Nguyễn Thành Long).

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về mặt lý luận:
    • Nhận diện và hệ thống hóa các đặc trưng hình thái cấu trúc không gian kiến trúc của 13 làng gốm truyền thống duyên hải miền Trung (phân loại thành 3 dạng hình thái: tập trung, tuyến, chuỗi điểm và 3 nhóm hiện trạng hoạt động sản xuất).
    • Xây dựng phương pháp luận xác định ranh giới bảo tồn thích ứng cho làng nghề truyền thống dựa trên mật độ điểm di sản và nghệ nhân cốt lõi, thay thế phương pháp khoanh vùng theo địa giới hành chính.
    • Xác lập bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc làng gốm truyền thống miền Trung.
  • Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
    • Xác định hệ thống chức năng mới và đề xuất giải pháp quy hoạch tổng thể cho 3 dạng hình thái làng gốm trong bối cảnh phát triển du lịch.
    • Đề xuất các mô hình tổ chức mặt bằng nhà ở kết hợp sản xuất và dịch vụ với khái niệm "vùng tiếp cận mềm", giải quyết xung đột giữa sinh hoạt gia đình và hoạt động đón tiếp khách du lịch.
    • Ứng dụng thành công đề xuất quy hoạch phân khu, phân luồng giao thông và chỉnh trang cảnh quan tại làng gốm Thanh Hà (thành phố Hội An).
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
    • Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ban hành quy chế quản lý kiến trúc riêng cho các làng gốm truyền thống; tích hợp ranh giới bảo tồn thích ứng vào đồ án quy hoạch phân khu và quy hoạch nông thôn mới tại các địa phương.
    • Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, ưu tiên bãi đỗ xe trung chuyển ngoài rìa làng nghề và hệ thống xử lý môi trường khói bụi từ lò nung gốm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn nghiên cứu thực địa chỉ tập trung vào khu vực duyên hải miền Trung và Thừa Thiên Huế (13 làng gốm), chưa mở rộng sang khu vực Tây Nguyên. Do một số làng thuộc Nhóm 3 (Quảng Đức, Mỹ Xuyên) đã ngừng sản xuất hoàn toàn hoặc chuyển sang làm chậu xi măng, việc thu thập dữ liệu về vận hành lò nung nguyên bản tại các địa bàn này còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đi sâu nghiên cứu chi tiết giải pháp kỹ thuật cải tiến hệ thống lò nung gốm nhằm giảm thiểu khí thải độc hại trong khu dân cư; hoàn thiện cơ chế chính sách quản trị cộng đồng trong việc vận hành và chia sẻ lợi ích từ các không gian dịch vụ công cộng mới của làng nghề.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn: Luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa về 13 làng gốm miền Trung; cung cấp phương pháp luận phân tích hình thái không gian bằng kỹ thuật sơ đồ hóa và chồng lớp bản đồ; cung cấp bộ tiêu chí đánh giá tiềm năng bảo tồn thích ứng.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương (Sở Xây dựng, Sở Du lịch, UBND các huyện, thị xã có làng nghề): Là tài liệu tham khảo kỹ thuật trực tiếp để triển khai Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 07/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ xác định ranh giới bảo tồn và lập quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc điểm dân cư nông thôn có nghề truyền thống.
  • Đối với kiến trúc sư thực hành: Cung cấp các giải pháp mặt bằng điển hình cho loại hình nhà ở nông thôn kết hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh du lịch trải nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực địa tại bao nhiêu làng gốm và thuộc các tỉnh thành nào?
Luận án tiến hành khảo sát thực địa tại 13 làng gốm truyền thống thuộc 8 tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung: Phước Tích, Mỹ Xuyên (Thừa Thiên Huế); Thanh Hà (Quảng Nam); Phổ Khánh, Mỹ Thiện (Quảng Ngãi); Vân Sơn, Trà Quang Nam (Bình Định); Quảng Đức, Trường Thịnh (Phú Yên); Lư Cấm, Trung Dõng (Khánh Hòa); Bàu Trúc (Ninh Thuận); Bình Đức (Bình Thuận).

2. Hình thái không gian mặt bằng các làng gốm miền Trung được phân chia thành những dạng nào?
Tác giả phân chia cấu trúc hình thái thành 3 dạng chính:

  • Dạng co cụm - tập trung phát triển thành mảng lớn: Thanh Hà (nằm kẹp giữa sông Con và sông Thu Bồn), Phước Tích (bao quanh bởi sông Ô Môn/Ô Lâu), Bàu Trúc (khu đất cao cạnh ao Bàu Trúc).
  • Dạng tuyến dọc - ngang: Vân Sơn, Trung Dõng, Trường Thịnh, Quảng Đức (phân bố bám theo trục đường giao thông bộ hoặc đường thủy).
  • Dạng chuỗi điểm: Mỹ Thiện, Trà Quang Nam (các cụm xóm nghề nối tiếp nhau ngắt quãng dọc tuyến giao thông).

3. Tình trạng hoạt động của các làng gốm được phân thành những nhóm nào trong văn bản?
Hoạt động gốm tại 13 làng được chia thành 3 nhóm:

  • Nhóm 1 (Phát triển du lịch, nhiều hộ làm nghề): Thanh Hà, Bàu Trúc, Trường Thịnh, Vân Sơn.
  • Nhóm 2 (Còn ít hộ làm nghề): Mỹ Thiện (năm 1982 có HTX 200 thợ, nay chỉ còn 1 chủ lò Đặng Văn Thịnh hoạt động cầm chừng), Trà Quang Nam, Lư Cấm, Trung Dõng (chỉ còn 1 hộ dù được nhà nước hỗ trợ), Bình Đức.
  • Nhóm 3 (Không còn hộ làm gốm hoặc còn rất ít): Quảng Đức (toàn bộ dân chuyển sang làm chậu xi măng) và Mỹ Xuyên.

4. Luận án giải quyết mâu thuẫn giữa sinh hoạt gia đình và hoạt động đón tiếp khách du lịch tại nhà ở như thế nào?
Tác giả đề xuất thiết lập "vùng tiếp cận mềm" và phân cấp trật tự không gian rõ rệt từ ngoài vào trong: Không gian công cộng tiếp cận đường (trưng bày, bán hàng) $\rightarrow$ Không gian tiếp cận mềm (sân trải nghiệm vuốt nặn, đón tiếp khách) $\rightarrow$ Không gian bán riêng tư (xưởng sản xuất, sân phơi, lò nung) $\rightarrow$ Không gian riêng tư hoàn toàn (khu vực sinh hoạt gia đình, phòng ngủ, bếp). Đồng thời đề xuất các sơ đồ mặt bằng nhà 1 dãy, 2 dãy, sản xuất phía sau/bên hông hoặc mở rộng gác lửng theo chiều cao.

5. Điểm bất cập lớn nhất về hạ tầng tại làng gốm Thanh Hà được luận án nêu ra là gì?
Bất cập lớn nhất là hệ thống giao thông và bến bãi: bãi đỗ xe của làng hiện trạng quá hẹp chỉ chứa được khoảng 15 xe loại 35 chỗ ngồi, trong khi vào các ngày cao điểm làng đón tới 1.000 khách cùng lúc, dẫn đến hiện tượng xe khách phải dừng đỗ tràn lan dọc các tuyến đường bên ngoài, gây ùn tắc và cản trở di chuyển.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Nguyên đã giải quyết bài toán khoa học và thực tiễn về tổ chức không gian kiến trúc các làng gốm truyền thống khu vực duyên hải miền Trung trong bối cảnh chịu tác động của đô thị hóa và phát triển du lịch. Bằng việc phân loại 13 làng gốm theo 3 dạng hình thái mặt bằng và 3 nhóm hiện trạng sản xuất, công trình đã đề xuất khung tiêu chí đánh giá tiềm năng, phương pháp xác định ranh giới bảo tồn thích ứng và mô hình nhà ở kết hợp ba chức năng ở - sản xuất - dịch vụ. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại làng gốm Thanh Hà khẳng định tính ứng dụng của các giải pháp quy hoạch và kiến trúc cảnh quan, đóng góp cơ sở khoa học phục vụ triển khai Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 theo Quyết định số 801/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.