Chương 1. Đất đai và Quản lý nhà nước về đất đai trong nền kinh tế Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Đồng Hới Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai ở thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình Luan van 5 7.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu QLNN về đất đai, trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, có giá trị khoa học cao như: “Những cải cách chính sách đất đai” (Land policy Reforms) (2003) [27] và “Sustainable Land Management” (2004) [28] của Ngân hàng Thế giới, là những nghiên cứu đưa ra chính sách quản lý đất đai (QLĐĐ), cảnh báo về những quy định, phương thức quản lý và SDĐ của chính quyền địa phương có thể làm ảnh hưởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát triển đô thị, cũng như sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch định chính sách có thể làm thay đổi những tác động được mong đợi trong quản lý và SDĐ như thế nào? “Những chính sách đất đai cho phát triển và xoá giảm đói nghèo” (Land policies for growth and poperty reduction) (2004) [29], của Ngân hàng thế giới là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách QLNN về đất đai, khuynh hướng SDĐ ảnh hưởng đến phát triển và nghèo đói của các nước đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa, giảm đói nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Ngoài ra còn một số công trình khác nhưng mức độ nghiên cứu hạn chế hơn những công trình đã đề cập ở trên. Do có sự khác biệt về văn hoá và xã hội, cũng như trình độ phát triển kinh tế, khoa học, những quan niệm khác nhau về đất đai, sở hữu đất đai. Nên hệ thống QLNN về đất đai giữa các quốc gia có những nét khác biệt.
Nhưng những nghiên cứu này có giá trị khoa học cao và là tư liệu quý để tham khảo, học tập kinh nghiệm QLNN về đất đai cho Việt Nam. Có thể tóm tắt một số kinh nghiệm chính được các nhà nghiên cứu đưa ra như sau: + Người sử dụng đất sẽ đầu tư vào đất đai gia tăng nếu các quyền của họ về đất đai được chia nhỏ và tăng lên, cũng như tính “linh động” của đất đai trong thị trường bất động sản tăng; + Việc cải thiện hệ thống thông tin cho đất đai là việc phải làm thường xuyên, ngay cả các quốc gia có thị trường đất đai phát triển cũng phải trả giá cho việc thiếu thông tin; Luan van 6 + Bất động sản hiện đang có ảnh hưởng lớn nhất đến chính sách tiền tệ, tuy nhiên nhiều ngân hàng Trung ương phải thừa nhận rằng mình không hề biết điều gì xẩy ra; + Thị trường đất đai đòi hỏi phải được kiểm tra kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ để thậm chí chỉ là bắt đầu hiểu được các quá trình vận hành của nó; mô hình xây dựng thị trường bất động sản phức hợp của Wallece và Williamson đưa ra năm 2005 là: đăng ký đất đai, định giá đất đai, năng lực nhận thức (cam kết, sự tham gia, minh bạch, tính sáng tạo, tư duy trừu tượng) và các dịch vụ tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN. Sự phối hợp giữa Nhà nước và tư nhân trong QLĐĐ cần phải nhịp nhàng. Các chính sách quản lý đất đai, xây dựng phát triển công trình, đô thị, tín dụng tài chính đều được phát huy nhằm tối đa việc phát triển thị trường bất động sản.
Nhà nước chỉ tác động vào các hoạt động mang tính vĩ mô, còn các hoạt động kinh doanh, đầu tư khác do khu vực tư nhân đảm nhiệm. Hệ thống thông tin đất đai hiện đại, tin cậy và thuận lợi cho người quản lý và sử dụng. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được tiến hành có sự tham gia phối hợp của nhiều phía. Cần có sự phối hợp của các cơ quan tư pháp như: Tòa án, viện kiểm sát trong quản lý đất đai, trong kiểm tra thực thi luật, các quyết định quản lý của cơ quan hành pháp tại địa phương… Nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước đối với QLNN về đất đai ở Việt Nam, trước tiên có thể kể đến công trình nghiên cứu ở cấp Luận án Tiến sỹ như: Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997) "Chiến lược QLĐĐ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010" nghiên cứu chủ yếu về công tác lập và quản lý quy hoạch SDĐ của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay và hướng phát triển quản lý và SDĐ cho những năm tiếp theo [19].
Ngoài ra còn các bài báo nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí như: Đinh Sỹ Dũng (2008), Tài chính đất đai: Một số vấn đề cần quan tâm, Tạp chí Nguyên cứu lập pháp số 21/2008 [7]; Đỗ Văn Thanh (2006), Quy hoạch sử Luan van 7 dụng đất đai theo hướng bền vững, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 3/2006 [25]; Lê Thị Anh (2008), Sử dụng tiết kiệm đất đai với phát triển bền vững, tạp chí Đô Thị & Phát triển số 70 [1]; Lê Văn Sự (2007), Tiếp tục hoàn thiện khung thể chế đất đai đối với doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Tài nguyên – Môi trường [23]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu QLNN về đất đai của các nhà khoa học trong và ngoài nước đối với QLNN về đất đai của Việt Nam đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cũng như thực tiễn quản lý đất đai ở Việt Nam. Các nghiên cứu, bài viết đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong QLNN về đất đai, trong đó có sự yếu kém về tổ chức thực hiện của chính quyền quận (huyện, thành phố trực thuộc tỉnh). Với nền kinh tế phát triển như hiện nay, nền kinh tế phát triển theo kinh tế thị trường, cũng từ đây nhưng bất cập trong công tác quản lý đất đai làm cản trở đến quá trình phát triển đất nước.
Những bất cập đó cũng làm lúng túng các cấp chính quyền địa phương trong việc quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt là chính quyền cấp quận (huyện, thành phố trực thuộc tỉnh). Trước những đòi hỏi phát triển KT- XH, đất đai ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống. Do vậy, liên tục đổi mới và hoàn thiện QLNN về đất đai, nhất là của chính quyền địa phương là xu thế tất yếu trong quản lý. Quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan quản lý không thể có hiệu quả, hiệu lực và tác động tốt đến đời sống, KT- XH nếu như: (i) quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền cấp quận (huyện, thành phố trực thuộc Tỉnh) không được nghiên cứu và tổ chức khoa học; (ii) vai trò của người dân trong QLĐĐ không được xem xét, đánh giá và đặt đúng vị trí; (iii) những bài học trong quá trình quản lý không được nghiên cứu, đánh giá một cách thường xuyên, cụ thể, từ đó, có thể đưa ra những biện pháp điều chỉnh bổ sung kịp thời.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 ĐẤT ĐAI VÀ QLNN VỀ ĐẤT ĐAI TRONG NỀN KINH TẾ 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC VÀ SỰ CẦN THIẾT QLNN VỀ ĐẤT ĐAI. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về đất đai - Khái niệm đất: Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (m2, ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người. Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian.
- Sử dụng đất: Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “ những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”. Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hoá học .), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ .) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động Luan van 9 môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác. Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật.
Vì vậy có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất. + Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng., cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng. + Điều kiện kinh tế - xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.