phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai. Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về đất đai trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Chƣơng 3: QLNN Đăk Lăk Luan van 5 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Theo những thông tin tra cứu từ thƣ viện Quốc gia và các nguồn thông tin khác, tính đến thời điểm nghiên cứu mà tác giả tiếp cận cho thấy: lĩnh vực QLNN về đất đai, trên thế giới đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu, có giá trị khoa học cao nhƣ: “Chính sách về đất đai” (Land policy Reforms) (2003) [32] và “Chính sách của địa phƣơng và sự khuyến khích đầu tƣ” (Local land use policy and investment incentives) (2004) [33] của Ngân hàng Thế giới, là những nghiên cứu đƣa ra chính sách quản lý đất đai, cảnh báo về những quy định, phƣơng thức quản lý và của chính quyền địa phƣơng có thể làm ảnh hƣởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát triển đô thị, cũng nhƣ sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch định chính sách có thể làm thay đổi những tác động đƣợc mong đợi trong quản lý và (SDĐ) nhƣ thế nào? “Những chính sách đất đai cho phát triển và xoá giảm đói nghèo” (Land policies for growth and poverty reduction) (2004) [34], của Ngân hàng thế giới là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách QLNN về đất đai, khuynh hƣớng SDĐ ảnh hƣởng đến phát triển và nghèo đói của các nƣớc đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa giảm đói nghèo, thúc đẩy phát triển bền vững. Ngoài ra còn một số công trình khác nhƣng mức độ nghiên cứu hạn chế hơn những công trình đã đề cập ở trên.
Do có sự khác biệt về văn hoá và xã hội, cũng nhƣ trình độ phát triển kinh tế, khoa học, những quan niệm khác nhau về đất đai, sở hữu đất đai. Nên hệ thống QLNN về đất đai giữa các quốc gia có những nét khác biệt. Nhƣng những nghiên cứu này có giá trị khoa học cao và là tƣ liệu quý để tham khảo, học tập kinh nghiệm QLNN về đất đai cho Việt Nam. Có thể tóm tắt một số kinh nghiệm chính đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra nhƣ sau: Luan van 6 + Ngƣời sử dụng đất sẽ đầu tƣ vào đất đai gia tăng nếu các quyền của họ về đất đai đƣợc chia nhỏ và tăng lên, cũng nhƣ tính “linh động” của đất đai trong thị trƣờng bất động sản tăng; + Việc cải thiện hệ thống thông tin cho đất đai là việc phải làm thƣờng xuyên, ngay cả các quốc gia có thị trƣờng đất đai phát triển cũng phải trả giá cho việc thiếu thông tin; + Bất động sản hiện đang có ảnh hƣởng lớn nhất đến chính sách tiền tệ, tuy nhiên nhiều ngân hàng phải thừa nhận rằng mình không hề biết điều gì xảy ra; + Thị trƣờng đất đai đòi hỏi phải đƣợc kiểm tra, kiểm soát thƣờng xuyên, chặt chẽ để thậm chí chỉ là bắt đầu hiểu đƣợc các quá trình vận hành của nó; mô hình xây dựng thị trƣờng bất động sản phức hợp của Wallece và Williamson đƣa ra năm 2005 là: đăng ký đất đai, định giá đất đai, năng lực nhận thức (cam kết, sự tham gia, minh bạch, tính sáng tạo, tƣ duy trừu tƣợng) và các dịch vụ tài chính, sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN.
Sự phối hợp giữa Nhà nƣớc và tƣ nhân trong cần phải nhịp nhàng. Các chính sách quản lý đất đai, xây dựng phát triển công trình, đô thị, tín dụng tài chính đều đƣợc phát huy nhằm tối đa việc phát triển thị trƣờng bất động sản. Nhà nƣớc chỉ tác động vào các hoạt động mang tính vĩ mô, còn các hoạt động kinh doanh, đầu tƣ khác do khu vực tƣ nhân đảm nhiệm. Hệ thống thông tin đất đai hiện đại, tin cậy và thuận lợi cho ngƣời quản lý và sử dụng.
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đƣợc tiến hành có sự tham gia phối hợp của nhiều phía. Cần có sự phối hợp của các cơ quan tƣ pháp nhƣ: Tòa án, Viện kiểm sát trong quản lý đất đai, trong kiểm tra thực thi luật, các quyết định quản lý của cơ quan hành pháp tại địa phƣơng… Nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc đối với QLNN về đất đai ở Việt Nam, trƣớc tiên có thể kể đến các công trình nghiên cứu ở cấp Luận án Luan van 7 Tiến sỹ nhƣ: Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997) "Chiến lƣợc QLĐĐ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010" nghiên cứu chủ yếu nay và hƣớng phát triển quản lý và SDĐ cho những năm tiếp theo [19]; Luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003) "Địa vị pháp lý ngƣời SDĐ trong các giao dịch dân sự, thƣơng mại về đất đai" nghiên cứu về các quy định của pháp luật, địa vị của ngƣời SDĐ, ảnh hƣởng đến các giao dịch về đất đai cũng nhƣ việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển thị trƣờng bất động sản và hoàn thiện pháp luật đất đai [20]. Ngoài ra còn có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc của PGS- Tiến sỹ Phạm Hữu Nghị (2000), Viện nghiên cứu địa chính- Tổng cục Địa chính: "Những quy định về chuyển quyền SDĐ" [21]; Một số đề tài khoa học cấp Bộ do Viện nghiên cứu địa chính thực hiện; các bài báo viết về các vấn đề cụ thể nhƣ: thị trƣờng bất động sản, công tác GPMB), công tác cấp GCN QSDĐ. Các nhà khoa học nƣớc ngoài cũng có một số nghiên cứu đối với QLNN về đất đai của Việt Nam, tính đến thời điểm hiện nay có: Tham luận số 03, “Tác động quy trình giao dịch đất đai đối với ngƣời nghèo áp dụng phƣơng pháp DE SOTO” (2005), nghiên cứu về các quy trình giao dịch đất đai hiện hành, ảnh hƣởng đến việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và phát triển kinh tế, đặc biệt của ngƣời nghèo của ngân hàng phát triển châu Á (ADB) [22]; Nghiên cứu của tổ chức tƣ vấn: “Strengthening environmental Management and Land Administration Viet Nam- Sweden comporation Program (SEMLA)”, đánh giá đối với hệ thống Luật đất đai của Việt Nam nhƣ: “Các báo cáo đánh giá hệ thống luật đất đai” (2006), đây là công trình nghiên cứu, rà soát hệ thống pháp luật đất đai hiện nay của Việt Nam, so sánh hệ thống luật hiện hành với hệ thống pháp luật đất đai của thế giới và đƣa ra một số khuyến nghị hoàn thiện hệ thống luật đất đai của Việt Nam [31].
Luan van 8 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu QLNN về đất đai của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đối với QLNN về đất đai của Việt Nam đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cũng nhƣ thực tiễn QLĐĐ ở Việt Nam. Các nghiên cứu, bài viết đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong QLNN về đất đai. Với nền kinh tế phát triển nhƣ hiện nay, nền kinh tế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, cũng từ đây những bất cập trong công tác quản lý đất đai làm cản trở đến quá trình phát triển đất nƣớc. Những bất cập đó cũng làm lúng túng các cấp chính quyền địa phƣơng trong việc quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt là chính quyền cấp huyện.
Trƣớc những đòi hỏi phát triển KT- XH, đất đai ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống. Do vậy, liên tục đổi mới và hoàn thiện QLNN về đất đai, nhất là của chính quyền địa phƣơng là xu thế tất yếu trong quản lý. Do vậy, quản lý nhà nƣớc về đất đai của các cơ quan quản lý không thể có hiệu quả, hiệu lực và tác động tốt đến đời sống, - nếu nhƣ: (i) quản lý nhà nƣớc về đất đai của chính quyền cấp huyện không đƣợc nghiên cứu và tổ chức khoa học; (ii) vai trò của ngƣời dân trong không đƣợc xem xét, đánh giá và đặt đúng vị trí; (iii) những bài học trong quá trình quản lý không đƣợc nghiên cứu, đánh giá một cách thƣờng xuyên, cụ thể, từ đó, có thể đƣa ra những biện pháp điều chỉnh bổ sung kịp thời. Luan van 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.
Khái niệm về đất đai a. Khái niệm: Đất hiểu theo nghĩa thông thƣờng nhất là phần mỏng nằm trên bề mặt của Trái Đất mà không bị nƣớc bao phủ. Tuy nhiên, trong các ngành khoa học có liên quan đến đất đai nhƣ kinh tế học, thổ nhƣỡng học, địa chất học v.v thì có những khái niệm hay thuật ngữ hoàn toàn khác nhau khi nói tới đất. Trong kinh tế học, đất bao gồm tất cả các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn nhƣ vị trí địa lý của khu vực đất đai, các tài nguyên khoáng sản dƣới lòng đất, và thậm chí các thành phần của phổ điện từ.
Trong kinh tế học cổ điển nó đƣợc coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác là tƣ bản và sức lao động. Vai trò của đất đai C. Mác đã khái quát vai trò của đất đai: “đất đai là đất mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”. Cùng với lao động là vốn, đất đai là một trong ba nguồn lực chính của mọi nền sản xuất ở bất kỳ chế độ xã hội nào.
Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện mọi quá trình sản xuất, vừa là chỗ đứng, vừa là địa bàn hoạt động cho tất cả các ngành sản xuất và mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Đối với các ngành nông- lâm- thủy hải sản thì đất đai (bao gồm cả diện tích mặt nƣớc) là tƣ liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, nó vừa là tƣ liệu lao động, vừa là đối tƣợng lao động. Đất đai là chỗ đứng cho các ngành khác nhƣ Luan van 10 công nghiệp, dịch vụ, giao thông… và là một trong các yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của các ngành này. Đối với đời sống con ngƣời nói riêng và của thế giới sinh vật nói chung, đất đai có vai trò hết sức đặc biệt, là địa bàn cƣ ngụ, là nơi duy trì sự sống của con ngƣời và sinh vật.
Đất đai cùng với các yếu tố tự nhiên gắn liền với nó nhƣ nƣớc, không khí và ánh sáng là cơ thể để phát triển các hệ sinh thái, là yếu tố hàng đầu của môi trƣờng sống. Hội nghị Bộ trƣởng Môi trƣờng các nƣớc châu Âu năm 1973 tại Luân Đôn đã đánh giá: “Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài ngƣời, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con ngƣời trên trái đất”.