Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Khái niệm, vai trò của đào tạo đại học, cao đẳng 1. Khái niệm đào tạo, đào tạo đại học, đào tạo cao đẳng Theo Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam, đào tạo “là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.một cách có hệ thống để chuẩn bị cho việc thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [30, tr. Đào tạo, cùng với nghiên cứu khoa học là hoạt động đặc trưng của trường ĐH, CĐ.
Đó là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước. Còn theo trang Wikipedia Bách khoa toàn thư: “Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định” [31, tr. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào tạo đề cập đến giai đoạn sau khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa.
Như vậy, đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể 8 về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể. Đào tạo là một công việc thường xuyên của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Hoạt động đào tạo là một công việc cần thiết để tạo ra nguồn nhân lực cho xã hội. Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia, dân tộc đó.
Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp, kỹ năng, kỹ xảo cho người lao động. Đặc biệt, trong quá trình CNH - HĐH đất nước, hoạt động đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực. Đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định.
Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kĩ thuật và văn hoá của đất nước. Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các khái niệm đào tạo.
Tùy theo từng trình độ, đối tượng mà thời gian đào tạo khác nhau. Sau khi kết thúc thời gian đào tạo cho từng đối tượng, người học được cấp chứng chỉ hoặc văn bằng. Đào tạo thường có thời gian kéo dài từ 2 đến 4 năm, trong một số trường hợp có thể kéo dài 6 năm (trong lĩnh vực y khoa). Kết thúc khóa đào tạo, người học được nhận văn bằng tốt nghiệp tương ứng với chuyên ngành được đào tạo.
Văn bằng, chứng chỉ là cơ sở pháp lý để khẳng định người được đào tạo đã đạt được một trình độ chuyên môn nhất định, được xã 9 hội thừa nhận và có đủ điều kiện để thực hiện nghề nghiệp theo chuyên môn đã được đào tạo. Trường đại học (tiếng Anh: college; La-tinh: collegium) là một cơ sở giáo dục ĐH hay một phần của một viện đại học hay đại học. College có nguồn gốc từ chữ La-tinh là collegium. Ở La Mã thời xa xưa, collegium là một câu lạc bộ hay một hội, một nhóm người sống với nhau, tuân theo một tập hợp những quy tắc chung.
Trong tiếng Anh, từ college còn có thể được dùng để chỉ một trường trung học, một trường giảng dạy chương trình sau trung học nhưng không thuộc giáo dục đại học, hay một trường huấn nghệ cấp các chứng chỉ nghề. Ở Việt Nam, từ college có khi được dịch sang tiếng Việt là "trường cao đẳng", còn "trường đại học" có khi được dịch sang tiếng Anh là university. Hầu hết các cơ sở giáo dục ĐH Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có tên là trường đại học và theo mô hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo dục của Liên Xô cũ, tức là mỗi trường đại học tồn tại độc lập và tập trung vào một chuyên ngành hay một nhóm chuyên ngành riêng; ví dụ: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Thủy lợi. Trong trường đại học thường có các khoa, trong khoa có các bộ môn.
Trường đại học có khi là một đơn vị thành viên trong một đại học hoặc viện đại học; ví dụ: Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Văn khoa thuộc Đại học Sài Gòn. Việt Nam có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa. Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản. Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (thuộc Đại học Huế), và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ. Loại này gồm có Trường Đại học Bách 10 khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (thuộc Đại học Đà Nẵng), và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Trường cao đẳng là trường đào tạo trình độ sau trung học nhưng thấp hơn bậc đại học, gọi là bậc cao đẳng, hệ cao đẳng, hay giáo dục cao đẳng. Các trường cao đẳng tuyển những người có bằng trung học phổ thông hoặc tương đương, và có chương trình đào tạo khoảng ba năm.
Sinh viên học xong cao đẳng có thể tham gia thi tuyển để được chọn vào học liên thông lên bậc đại học. Cao đẳng là một hệ đào tạo trong giáo dục đại học của Việt Nam. Đào tạo cao đẳng thường diễn ra trong các trường cao đẳng. Tuy vậy, các đại học và trường đại học cũng thường có cả hệ cao đẳng.
Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa "cao đẳng là cấp học thuộc giáo dục đại học, tuyển chọn những người có bằng trung học phổ thông hoặc tương đương, đào tạo trong thời gian ba năm. Người tốt nghiệp cao đẳng có khả năng hoạt động thực hành nghề nghiệp trong các quy trình công nghệ không quá phức tạp, với trình độ giới hạn về mặt lí thuyết. Từ đó có thể đưa ra khái niệm Đào tạo cao đẳng thuộc giáo dục đại học có mục tiêu đào tạo chung là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm kiếm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trường Đại học do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập, trường cao đẳng công lập do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập.
Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho các hoạt động của trường chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm. 11 Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng được xây dựng theo định hướng thực hành, áp dụng cho hình thức giáo dục chính quy và thường xuyên. Cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng bao gồm trường cao đẳng và trường đại học. Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.
Vận dụng khái niệm quản lý vào lĩnh vực đào tạo, có thể hiểu quản lý đào tạo ở trường ĐH,CĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (gồm các cấp quản lý khác nhau từ Ban giám hiệu, các Phòng, Ban, Khoa, đến Tổ bộ môn và giảng viên) lên các đối tượng quản lý (bao gồm giảng viên, sinh viên, cán bộ quản lý cấp dưới và cán bộ phục vụ đào tạo) thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường. Vị trí, vai trò của đào tạo đại học, cao đẳng Hiện nay Việt Nam đang thực hiện CNH - HĐH nền kinh tế thì giáo dục đào tạo ĐH, CĐ giữ vị trí hết sức quan trọng để thực hiện thành công nhiệm vụ này. Điều 61 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ “Phát triển giảo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [25, tr.