CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1. Khái quát về đăng ký giao dịch bảo đảm 1. Khái niệm và đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm 1. Khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm Trong nền kinh tế thị trường, nhằm đảm bảo cho các hoạt động cho vay để phát triển sản xuất, kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần, các bên thường ký kết hợp đồng cầm cố, thế chấp bằng tài sản.
Nếu việc ký kết, thực hiện các hợp đồng này chỉ có các bên biết với nhau thì có thể xảy ra các hiện tượng như: Bên vay dùng chính tài sản đó để tiếp tục cầm cố, thế chấp nhiều nơi, nhiều lần mang tính lừa đảo hoặc cá nhân, tổ chức mua phải tài sản đang dùng để cầm cố, thế chấp trong khi bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp có quyền ưu tiên thanh toán, nên người mua không trở thành chủ sở hữu, chủ sử dụng … Mặt khác, khi xử lý tài sản bảo đảm đã xảy ra không ít các tranh chấp về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận bảo đảm hoặc giữa những người cùng nhận bảo đảm với những người có quyền, lợi ích liên quan. Nhằm ngăn chặn tình trạng trên, một trong các biện pháp hữu hiệu nhất đó là hoạt động ĐK GDBĐ nhằm công khai hoá các GDBĐ thông qua việc ĐK các giao dịch đó tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Mặc dù, pháp luật Việt Nam về ĐK GDBĐ đang ngày càng tiếp cận với pháp luật nhiều nước có hệ thống ĐK GDBĐ phát triển, nhưng đến thời điểm hiện nay Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm chính thức về ĐK GDBĐ. Vậy ĐK GDBĐ được định nghĩa như thế nào? Trước khi xây dựng khái niệm về ĐK GDBĐ, chúng ta cần xuất phát từ khái niệm "đăng ký".
Có rất nhiều định nghĩa về "đăng ký" trong các công trình nghiên cứu và sách tham khảo, ví dụ như: 6 "Đăng ký: Ghi vào sổ của cơ quan quản lý." 1 "Đăng ký: Đứng ra khai báo để được cấp Giấy công nhận về quyền hạn, nghĩa vụ nào đó." 2 "Đăng ký: Ghi vào Sổ của cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ.”3 "Đăng ký: Thể thức ghi chép vào sổ sách nhà nước đặt ra như: đăng ký kết hôn, đăng ký kinh doanh, đăng ký chứng khoán. Những sự kiện được ghi chép vào sổ là không thể chối cãi được." 4 Qua các định nghĩa nêu trên, dễ nhận ra được dù các tác giả nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về đăng ký, song vẫn có thể tổng hợp nội hàm của khái niệm đăng ký bao gồm các đặc điểm chủ yếu sau đây: (i) đăng ký là hành vi ghi vào sổ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) đăng ký làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thực hiện đăng ký và (iii) những thông tin được ghi vào sổ của cơ quan đăng ký có thẩm quyền là chứng cứ khách quan, không thể chối cãi. Hoặc có định nghĩa khác, mặc dù không định nghĩa về ĐK GDBĐ nhưng đã định nghĩa về ĐK việc cầm cố. Đăng ký việc cầm cố là (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý quan hệ dân sự được bảo đảm bằng tài sản cầm cố.
Đăng ký việc cầm có là thủ tục do pháp luật quy định. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc dùng tài sản đó cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là thủ tục bắt buộc.5 Trong định nghĩa trên đã đề cập đến những nội dung như: chủ thể của hành vi đăng ký (cơ quan nhà nước có thẩm quyền), nguyên tắc đăng ký 1 Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2005), Từ điển Tiếng Việt, tr. 2 Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, tr. 3 Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Trung tâm Từ điển (1994), Từ điển Tiếng Việt, tr.
4 Nhà xuất bản Lao động (2002), Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính, tr. 5 Nhà xuất bản Bách khoa và Nhà Xuất bản Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, tr. 7 (đăng ký tự nguyện hoặc đăng ký bắt buộc), thủ tục đăng ký do pháp luật quy định. Song, định nghĩa về đăng ký việc cầm cố trong Từ điển Luật học chưa thể hiện được hai nội dung đặc biệt quan trọng, khác biệt với đăng ký các sự kiện pháp lý khác (ví dụ: đăng ký phương tiện giao thông cơ giới, đăng ký kết hôn.), đó là: giá trị pháp lý của việc đăng ký và thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký cầm cố, cụ thể như sau: "trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký".6 Từ định nghĩa về đăng ký và đăng ký việc cầm cố, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia, có thể đi đến kết luận: Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc thực hiện thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Giao dịch bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật quy định và thông tin về giao dịch bảo đảm được cơ quan đăng ký có thẩm quyền cung cấp là chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm. Đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm Để hiểu rõ hơn bản chất của ĐK GDBĐ, cần phân tích một số đặc điểm chủ yếu của ĐK GDBĐ như sau: Thứ nhất: Việc chứng nhận ĐK GDBĐ do đơn vị dịch vụ công thực hiện. Chủ thể có thẩm quyền ĐK GDBĐ chính là các đơn vị dịch vụ công, do nhà nước uỷ quyền thực hiện việc cung cấp dịch vụ cho người dân.
Do đó, cơ quan ĐK GDBĐ hoạt động theo nguyên tắc tài chính "lấy thu, bù chi" và đa phần các quốc gia đều "tách biệt" hoạt động ĐK GDBĐ với chức năng quản lý nhà nước về ĐK GDBĐ. Thẩm quyền ĐK GDBĐ được xác định theo loại 6 Khoản 3, Điều 323, Bộ Luật Dân sự năm 2005. 8 tài sản bảo đảm, theo địa giới hành chính - lãnh thổ hoặc theo địa vị pháp lý của bên nhận bảo đảm (tổ chức hoặc cá nhân). Tuỳ thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, mỗi quốc gia sẽ quyết định lựa chọn mô hình cơ quan ĐK GDBĐ phân tán hoặc tập trung, cũng như xác định mức độ tập trung khác nhau.
Hiện nay, hệ thống cơ quan ĐK GDBĐ của Việt Nam được tổ chức tương ứng 4 loại tài sản, cụ thể là: (i) QSDĐ và TSGLVĐ, (ii) tàu bay, (iii) tàu biển và (iv) động sản khác không phải tàu bay, tàu biển. Thứ hai: ĐK GDBĐ làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Trở lại quy định của BLDS 2005 thì "trường hợp tài sản bảo đảm được ĐK theo quy định của pháp luật thì GDBĐ đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm ĐK".7 GDBĐ được ĐK làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Đây là vấn đề mấu chốt của pháp luật về ĐK GDBĐ.
Để có thể khuyến khích sự phát triển của nguồn tín dụng, pháp luật các nước phải quy định cụ thể, chi tiết vấn đề này. Về nguyên tắc, hợp đồng bảo đảm được ký kết hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên chủ thể (bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm) nhưng không đương nhiên phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Do vậy, để công khai hoá quyền lợi bảo đảm, từ đó làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba, thì hợp đồng bảo đảm phải được ĐK. Do vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về GDBĐ và ĐK GDBĐ của tất cả các quốc gia là phải xác định rõ "người thứ ba" bao gồm những chủ thể nào? Giá trị pháp lý của GDBĐ đối với người thứ ba được hiểu như thế nào? Quy định cụ thể, chi tiết về vấn đề này sẽ giải quyết được triệt để về lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm.
Thứ ba: ĐK GDBĐ có thể là bắt buộc hoặc tự nguyện, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định 7 Bộ Luật Dân sự năm 2005, tlđd 6. 9 ĐK GDBĐ được thực hiện tự nguyện hay bắt buộc là do quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia (ví dụ: Hàn Quốc, Cộng hoà Pháp, Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga quy định ĐK thế chấp bất động sản là nghĩa vụ bắt buộc, CHLB Đức Mỹ, New Zealand, Canada. quy định ĐK thế chấp bất động sản không phải là nghĩa vụ bắt buộc, mà do các bên tự nguyện)8. Về vấn đề này, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các trường hợp phải ĐK GDBĐ bao gồm: thế chấp QSDĐ, thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, thế chấp tàu bay, tàu biển và thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Đối với các GDBĐ không thuộc các trường hợp nêu trên, thì việc ĐK được thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân.9 Tuy nhiên, dù được ĐK bắt buộc hay tự nguyện, thì đều có chung hậu quả pháp lý là chỉ khi ĐK thì GDBĐ mới có giá trị pháp lý đối với người thứ ba. Thứ tư: Thông tin về GDBĐ được ĐK phải được cung cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu. Thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm đã ĐK tại các cơ quan có thẩm quyền đều được lưu giữ và cung cấp công khai cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Pháp luật về ĐK GDBĐ của các nước khẳng định quyền được tiếp cận thông tin về GDBĐ của các tổ chức, cá nhân khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động cho vay có bảo đảm ngày một mở rộng hơn về hình thức và mức độ.