CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về công nghiệp 1. Khái niệm và phân loại công nghiệp 1. Khái niệm Theo Quyết định số 486-TCTK/CN ngày 02 tháng 6 năm 1966 của Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê về ban hành bản quy định việc phân ngành cụ thể trong công nghiệp và bảng mục lục ngành nghề cụ thể trong công nghiệp có quy định như sau: « Ngành công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, bao gồm các hoạt động: Khai thác của cải vật chất có sẵn trong thiên nhiên mà lao động của con người chưa tác động vào.
Chế biến những sản phẩm đã khai thác và chế biến sản phẩm của nông nghiệp. Hoạt động sản xuất công nghiệp còn bao gồm cả việc sửa chữa máy móc thiết bị và vật phẩm tiêu dùng”[14]. Theo quy định trên, tất cả các hoạt động khai thác chế biến và sửa chữa nói trên không kể quy mô, hình thức như thế nào, không kể với loại công cụ lao động gì, hoặc bằng cơ khí hiện đại, nửa cơ khí, hoặc bằng công cụ thô sơ dựa vào sức lao động và sự khéo léo của chân tay người lao động là chính, đều xếp vào ngành công nghiệp. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư: “Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo.
Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật”[26]. Theo Nguyễn Đình Phan, Nguyễn Kế Tuấn trong Giáo trình Kinh tế và quản lý công nghiệp định nghĩa: “Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh 9 vực sản xuất vật chất - một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội” [13]. Từ những quan niệm trên, theo tác giả: Công nghiệp là một ngành kinh tế sản xuất vật chất gắn với việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, chế biến, chế tạo các nguyên liệu khoáng vật, động vật, thực vật thành các sản phẩm đầu ra. Phân loại công nghiệp Hoạt động công nghiệp rất đa dạng nên có nhiều cách phân loại khác nhau như: Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động thì có công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ.
Công nghiệp nặng bao gồm luyện kim, khai thác than, sản xuất phân bón, cơ khí, điện tử-tin học, công nghiệp năng lượng. Công nghiệp nhẹ bao gồm công nghiệp giấy, công nghiệp sữa, công nghiệp giày dép, cộng nghiệp dệt may. Theo sản phẩm và ngành nghề: công nghiệp dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghiệp dệt, công nghiệp năng lượng,. Công nghiệp dầu khí bao gồm các hoạt động khai thác, chiết tách, lọc, vận chuyển (thường bằng các tàu dầu và đường ống), và tiếp thị các sản phẩm dầu mỏ.
Phần lớn các sản phẩm của ngành công nghiệp này là dầu nhiên liệu và xăng. Dầu mỏ là nguyên liệu thô dùng để sản xuất các sán phẩm hóa học như dược phẩm, dung môi, phân bón, thuốc trừ sâu và nhựa tổng hợp. Ngành công nghiệp ô tô thiết kế, phát triển, sản xuất, tiếp thị và bán tất cả các loại xe có động cơ. 1 Công nghiệp năng lượng bao gồm hàng loạt các ngành công nghiệp khác nhau, từ khai thác các dạng năng lượng (như than, dầu mỏ, khí đốt.) cho đến sản xuất điện năng.
Nó có thể được chia thành hai nhóm ngành: khai thác nhiên liệu và sản xuất điện năng. Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phương, công nghiệp trung ương. Đặc điểm và vai trò công nghiệp 1. Đặc điểm của công nghiệp Thứ nhất, Về công nghệ sản xuất và sự biến đổi của đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất Đặc trưng về công nghệ sản xuất, trong công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ lý hoá của con người, làm thay đổi các đối tượng lao động thành những sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người.
Công nghiệp sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, chủ yếu là cơ học, vật lý, hóa học hoặc quá trình sinh học làm thay đổi toàn bộ hoạch một phần nguyên liệu đầu vào để tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu hằng ngày của con người hoặc các ngành công nghiệp khác. Đặc trưng và sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kì sản xuất của quá trình sản xuất công nghiệp sau: Các đối tượng lao động của quá trình sản xuất công nghiệp sau mỗi chu kì sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng này chuyển sang các sản phẩm có công dụng hoàn toàn khác. Nghiên cứu đặc trưng này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc khai thác và sử dụng nguyên liệu. Thứ hai, Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sản xuất công nghiệp Công nghiệp phụ thuộc nhiều vào tiến bộ khoa học, ít bị ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết, đất đai so với nông nghiệp.
Công nghiệp có tư liệu sản xuất và 1 lực lượng sản xuất cao hơn so với nông nghiệp. Đặc điểm này cho thấy công nghiệp có khả năng sản xuất cao hơn nông nghiệp và các ngành kinh tế khác và khẳng định vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế. Thứ ba, Sản phẩm của công nghiệp tạo ra tác động trực tiếp và to lớn đến hiện đại hóa nền kinh tế và đời sống SXCN là hoạt động sản xuất duy nhất tạo ra những sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Từ những công cụ thủ công đơn giản đến hệ thống máy móc hiện đại.
Đặc trưng này cho thấy vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó. Do vậy, sự phát triển của ngành công nghiệp có tác động trực tiếp và to lớn đến quá trình hiện đại hóa nền kinh tế, phát triển sản xuất và nâng cao mức sống của dân cư. Đầu vào cho SXCN có khối lượng nguyên liệu lớn sử dụng từ các ngành khác như nông nghiệp, khai khoáng… Do công nghiệp tiêu thụ một lượng lớn năng lượng, các phụ phẩm và tồn dư trong quá trình sản xuất lớn nên công nghiệp thường ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường. Khi phát triển không kiểm soát sẽ làm tổn hại đến môi trường, đời sống của nhân dân.
Thứ tư, Công nghiệp là ngành có trình độ xã hội hóa cao, đòi hỏi phải phân công tỉ mỉ và phối hợp chặt chẽ Một sản phẩm công nghiệp làm ra thường kết tinh lao động của nhiều đơn vị khác nhau, có thể cùng trong một tổ chức hoặc nhiều tổ chức khác nhau được phân bố ở những địa điểm khác nhau, thậm chí ở các nước khác nhau. Sự liên kết chặt chẽ này bắt đầu từ khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm, đến khâu tiêu thụ sản phẩm và thực hiện những dịch vụ sau bán hàng tạo thành chuỗi liên kết chặt chẽ với nhau. Mối liên kết này không chỉ thục hiện giữa các doanh nghiệp trong cũng một ngành mà còn được thực hiện giữa các 1 ngành khác nhau, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong phạm vi một nước mà còn ở phạm vi giữa các nước. Vai trò của công nghiệp * Là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và đánh giá trình độ phát triển kinh tế của quốc gia Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng, là nền tảng của sự phát triển kinh tế quốc dân.
Trình độ phát triển của công nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển kinh tế của quốc gia. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế đi đôi với quá trình giảm tỷ trọng nông nghiệp. Mặc dù một số quốc gia đã chuyển từ trọng tâm công nghiệp sang dịch vụ, tỷ trọng công nghiệp đóng góp vào GDP đang có xu hướng giảm, đây vẫn là ngành quan trọng và là nền tảng cho sự phát triển các ngành khác trong xã hội, bao gồm cả nông nghiệp và dịch vụ. Nhìn lại quá trình phát triển công nghiệp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập của đất nước thời gian qua cho thấy đã đạt được những kết quả rất quan trọng và tương đối toàn diện, góp phần vào thành tựu phát triển KT-XH chung của cả nước, tạo dựng vị thế của Việt Nam trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Tới nay Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia có năng lực canh tranh toàn cầu ở mức trung bình cao. Năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành công nghiệp Việt Nam đã tăng 16 bậc trong vòng 10 năm, từ vị trí thứ 58 vào năm 2009 lên vị trí thứ 42 vào năm 2019 (theo xếp hạng của UNIDO), trở thành quốc gia có mức tăng hạng nhanh nhất trong các nước thuộc khu vực ASEAN, đã tiệm cận vị trí thứ 5 trong khu vực (chỉ thua Philippines 0,0015 điểm) và tiến gần hơn với nhóm 4 nước có năng lực cạnh tranh mạnh nhất trong khu vực ASEAN. 1 cho thấy công nghiệp đóng góp quan trọng trong GDP của Việt Nam năm 2020. Nếu ngành nông nghiệp chỉ chiếm 30%, dịch vụ 26% thì công nghiệp và xây dựng 44% [1].
* Đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đảm bảo tiềm lực quốc phòng Nguồn: Tổng cục thống kê Biểu đồ 1. Tốc độ tăng GDP năm 2020 theo giá so sánh 2010 Công nghiệp sản xuất ra khối lượng của cải vật chất lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của con người. Năng suất lao động công nghiệp cao hơn, máy móc, ngành nghề sản xuất công nghiệp đa dạng nên tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác.
Cả nông nghiệp hay dịch vụ đều cần có máy móc thiết bị, các máy móc này đều do công nghiệp làm ra. Việc chế biến các sản phẩm nông nghiệp, các sản phẩm đầu vào của ngành nông nghiệp cũng xuất phát từ công nghiệp. cũng cho thấy công nghiệp và xây dựng có vai trò quan trọng chiếm quy mô 34% quy mô và cơ cấu GDP năm 2020 của Việt Nam.