CHƯƠNG I: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE CANG BIEN 1. Quan niệm về cảng biển và hệ thống cảng bién ở Việt Nam 1. Khái niệm cảng biển “Cảng biển là bến cảng, cầu cảng nhân tao được xây dựng dé tiếp nhận các loại tàu biển như tàu thủy, sa lan. Từ ‘Seaport’ bắt nguồn từ tiếng Pháp nghĩa là ‘port’ (bến cảng) và ‘seafarer’ (thủy thủ).
Các cảng biên đầu tiên được xây dựng ở châu Âu trong thời Trung cô dé làm điểm giao thương và trao đôi hàng hóa giữa các thương gia và nhà thám hiém.”[3] Theo định nghĩa phô biến nhất từ thời kỳ đầu, cảng biên là nơi thực hiện việc bốc xếp hàng hoá cho tàu tại các bến bãi và khu vực xung quanh. Cảng biển có cơ cấu tô chức và kỹ thuật phức tạp, đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau. Đó là điểm giao thoa của các ngành vận tải, tạo nên một hệ thống tổng hợp phức tạp với nhiều bộ phận riêng biệt. Mỗi bộ phận này có nhiệm vụ cụ thể, nhằm chuyền hàng hoá từ phương tiện vận tải biển sang phương tiện vận tải bộ và ngược lại.
Theo quan điểm hiện đại, cảng không còn được xem là điểm cuối cùng của quá trình vận tải mà là một điểm trung chuyền quan trọng cho hang hoá và hành khách. Nói cách khác, cảng hoạt động như một mắt xích trong chuỗi vận tải liên tục, đảm bảo sự lưu thông hiệu quả và liền mạch giữa các phương thức vận tải khác nhau. Đặc tính vận tai của cảng được thé hiện day đủ nhất trong định nghĩa của L.Kuzma, theo tác giả “cảng biển là một đầu mối vận tải liên hop mà ở đó có nhiều phương tiện vận tải khác nhau chạy qua, đó là tàu biển, tàu sông, xe lửa, ô tô cũng như máy bay và đường ống. Ở khu vực cảng xuất hiện việc xếp dỡ hàng hoá hoặc sự lên xuống của tàu của hành khách giữa các tàu biển và các phương tiện vận tải còn lại, có nghĩa là xuất hiện sự thay đổi phương tiện vận tải trong vận chuyên hang hoá và người”.|4] Ở tại Việt Nam, Chương IV của Bộ luật hàng hải năm 1990 đã quy định tương đối rõ ràng về các vấn đề liên quan đến cảng biển và cảng vụ, theo Điều 57 Bộ luật 7 hàng hải năm 1990 “Cảng biên là cảng được mở ra dé tàu biên ra, vào hoạt động"[5].
Tuy nhiên trải qua 15 năm thi hành, Bộ luật hàng hải năm 1990 đã cho thấy những nhược điểm, bất cập so với yêu cầu mà thực tiễn cuộc sống đề ra. Vì vậy, tháng 6/2005 Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 7 đã thông qua Bộ luật hàng hải năm 2005. Bộ luật này đã dành hắn một chương (Chương IV) với 11 điều luật quy định về cảng biển. Theo đó cảng biển lúc bay giờ được quy định: “Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bi cho tàu bién ra, vào hoạt động dé bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khac.”[6] Hiện nay, theo điều 73 Bộ luật Hàng Hải Việt Nam năm 2015, khái nệm Cảng biển được quy định như sau : “Cảng biên là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tang, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác.
Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng. Hệ thống cảng bién Việt Nam Dé đáp ứng kịp thời nhịp độ phát triển của nền kinh tế đất nước và của ngành hàng hải, ngày 12/10/1999, trên cơ sở nghiên cứu, xây dựng của BGTVT, CHHVN, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 202/1999/QĐ-TTg, phê duyệt quy hoạch tong thé phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010, gồm 8 nhóm cảng với mục tiêu chung: “Việc xây dựng và phát triển hệ thống cảng biên tại Việt Nam dang được thực hiện đưới một quy hoạch tông thé và thống nhất trên toàn quốc. Mục tiêu là tạo ra những trung tâm kết nối về cơ sở hạ tang giao thông- vận tải tại các khu vực, đặc biệt là tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Đồng thời, việc tạo ra cơ sở vật chất và kỹ thuật cho cảng biển nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế, cũng như thúc đây vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế biển trên cả khu vực và thế giới. Điều này sẽ tạo ra những điểm nối quan trọng trong việc giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác trên thé giới.”[Điều 1,8] 8 Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, Ngành Hang hải đã cùng các tô chức, cá nhân tiến hành lập quy hoạch chi tiết và tổ chức dau tư xây dựng hệ thống cảng biển theo quy hoạch được duyệt. Tiếp tục kế thừa quy hoạch cảng biến tại Quyết định số 202/2009/QD-TTg, ngày 24/12/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2190/2009/QD TTg về việc phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu: “Việc phát triển hệ thống cảng bién theo một quy hoạch tổng thé và thống nhất trên toàn quốc đang được thực hiện dé đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước. Mục tiêu là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật dé nhanh chóng thúc đây quá trình hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong lĩnh vực cảng biến so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, từ đó củng cô vị thé và ưu thế về kinh tế biển của quốc gia.
Đồng thời, việc này cũng đóng góp vào việc bảo đảm an ninh và quốc phòng, hình thành các điểm giao lưu kinh tế quan trọng với cộng đồng quốc tế, là động lực cho sự phát triển của các khu kinh tế và đô thị - công nghiệp ven biển. Qua đó, việc đảm bảo lưu lượng hàng hóa xuất nhập khâu và giao lưu giữa các vùng miễn trong nước băng đường biển được thúc day, từ đó góp phan tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.”[Khoản 1,Diéu 1, 9] Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được xác định, bao gồm 6 nhóm cảng. Mục tiêu là đáp ứng lưu lượng hàng hóa dự kiến, với mức 900-1.000 triệu tắn/năm vào năm 2020 và tăng lên khoảng 1.100 triệu tan/nam vào năm 2030. Trên cơ sở quyết định số 2190/2009/QĐ-TTg, BGTVT đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch chỉ tiết 6 nhóm cảng biển trong hệ thống cảng biên Việt Nam, bao gồm: + Nhóm 1: Nhóm cảng biên phía Bắc + Nhóm 2: Nhóm cảng biên Bắc Trung Bộ + Nhóm 3: Nhóm cảng biên Trung Trung Bộ + Nhóm 4: Nhóm cảng biển Nam Trung Bộ 9 + Nhóm 5: Nhóm cảng biển TPHCM-Đồng Nai- Bà Rịa Vũng Tàu + Nhóm 6: Nhóm cảng biển Đồng bằng Sông Cửu Long Quy hoạch này đã làm rõ vai trò và chức năng của từng loại cảng và từng cảng trong hệ thống cảng biển, phân chia các khu chức năng cho từng cảng biển, đồng thời xác định các ưu tiên dau tu cho giai đoạn tiếp theo đối với hệ thống cảng bién.
Điều này nhằm tối ưu hóa hiệu quả khai thác và sử dụng các tài nguyên quan trọng trong hệ thống cảng biển. Các cảng loại IA, như Cảng Hải Phòng, Cảng Sài Gòn, Cảng Cái Mép - Thị Vải, và Cảng Da Nang, đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đây thương mại quốc tế và quốc gia. Với quy mô lớn và vị trí chiến lược, những cảng này trở thành trung tâm logistics và giao thương không chỉ của Việt Nam mà còn của khu vực Đông Nam A. Bên cạnh đó, các cảng loại I, II và II, dù có quy mô nhỏ hơn, nhưng lại giữ vai trò không kém phần quan trọng trong việc hỗ trợ và kết nối các hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực và địa phương.
Chúng tạo nên mạng lưới liên kết chặt chẽ, giúp phân phối hàng hóa và dịch vụ đến các khu vực xa xôi, đồng thời giảm tải áp lực cho các cảng lớn. Việc phân định chức năng và vai trò này không chỉ đảm bảo sự phát triển hợp lý của hạ tầng cảng biển mà còn thúc đây sự phát trién đồng đều giữa các vùng miền, từ đó góp phan vào tăng trưởng kinh tế bền vững của quốc gia. Chức năng, vai trò của cảng biến 1. Chức năng Cảng biển là đầu mối quan trọng kết nói hệ thống giao thông ngoài cảng biển, là nơi tiếp nhận tàu bién ra, vào hoạt động để thực hiện thao tác xếp dỡ hàng hóa và vận chuyền hành khách.
* Chức năng cơ bản Hỗ trợ, cung cấp phương tiện, thiết bị và nhân lực thiết yếu cho tàu biên khi neo đậu. Đồng thời, đảm bảo các dịch vụ như thông quan, hoa tiêu, lai dắt, vệ sinh ham hàng, cung ứng lương thực, thực phẩm, và nguyên nhiên vật liệu dé đảm bảo an toàn và an ninh cho tàu tại cảng. Cảng biển là nơi tàu thuyền có thé trú ân, sửa chữa, bảo dưỡng, hoặc nhận các dịch vụ cần thiết trong tình huống khẩn cấp. Tuy nhiên, để trở thành nơi trú ân lý tưởng, cảng phải có kết cấu hạ tang tốt và vị trí địa lý thuận lợi.
Chang hạn, cảng 10 Cam Ranh là một điểm trú bão lý tưởng cho tàu thuyền, vì vậy số lượng tàu cập cảng dé tránh bão thường rất đông. Cung cấp hệ thống kho bãi cũng như các dịch vụ như xếp dỡ, giao nhận, chuyền tải, bảo quản, lưu trữ, tái chế, đóng gói và phân phối hàng hóa xuất nhập khâu. Cảng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu và là điểm bắt đầu, kết thúc hoặc tiếp diễn của quá trình vận chuyên hàng hóa. Cung cấp một loạt các dịch vụ đa dạng cho tàu thuyền, hành khách và hàng hóa là nhiệm vụ chính của các cảng biển.
Đây bao gồm việc kiểm tra và giám sát các tiêu chuẩn an toàn của tàu thuyền, kiểm soát ô nhiễm môi trường, đăng ký tàu thuyền, thực hiện khảo sát thủy đạc và lập hải đồ. Ngoài ra, các cảng còn cung cấp các dịch vụ kinh tế và thương mại như phát triển dự án khu công nghiệp, hậu cần sau cảng và cung cấp dịch vụ tư vấn. * Chức năng phụ thuộc Bảo đảm an toàn cho các tàu khi ra vào cảng, cũng như đảm bảo an toàn cho tàu khi di chuyền bên trong cảng, là một phần không thé thiếu trong hoạt động cảng biển.