Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về lãnh thổ quốc gia và biên giới Quốc gia Lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia. Lãnh thổ và biên giới quốc gia là một phạm trù lịch sử, là hệ quả tất yếu của xã hội loài người khi xuất hiện phân chia giai cấp, xuất hiện nhà nước và pháp luật.
Lênin khẳng định: “Chừng nào xã hội loài người còn tồn tại giai cấp là còn tồn tại nhà nước. Còn tồn tại Nhà nước là còn biên giới quốc gia”. Khái niệm về biên giới gắn bó chặt chẽ với khái niệm về lãnh thổ, định giới hạn cho một lãnh thổ cụ thể, đánh dấu nơi kết thúc thẩm quyền lãnh thổ. Cùng với sự phát triển của lịch sử, của luật pháp quốc tế, khái niệm về lãnh thổ và biên giới quốc gia ngày càng phát triển và hoàn thiện.
Trong khoa học pháp lý quốc tế, các nhà học giả, nghiên cứu và các luật gia đưa ra khá nhiều định nghĩa khác nhau về lãnh thổ và biên giới quốc gia. Theo cách hiểu chung nhất, thì: Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng nước nội địa, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng nước quần đảo và vùng trời bên trên cũng như lòng đất dưới chúng. Biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia. Bên trong đường biên giới, một quốc gia được phân vạch rõ phạm vi lãnh thổ nhất định, quốc gia và chỉ có quốc gia đó mới có “thẩm quyền quản lý các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của mình”.
Bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể có các loại đường biên giới sau: Biên giới trên đất liền (bao gồm cả sông, suối, kênh đào biên giới, hồ biên giới); biên giới trên 6 biển; biên giới vùng trời và biên giới trong lòng đất. Điều Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 7/6/ quy định: Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Biên giới quốc gia được xác định bằng điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc do pháp luật Việt Nam quy định. Biên giới quốc gia trên đất liền được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới.
Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất. Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển n m và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời. Khái niệm quản lý nhà nước về biên giới quốc gia - Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là trông coi, giữ gìn và theo dõi một việc gì [4 , tr.
Về khái niệm quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý là hành chính, là cai trị; có quan niệm lại cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Cả hai quan niệm này về cơ bản không có gì khác nhau về nội dung. Khoa học và thực tiễn cuộc sống đã chứng minh rằng quản lý 7 được hiểu theo hai góc độ là yếu tố mang tính chính trị xã hội và mang tính hành động thiết thực. - Quản lý nhà nước: Về thực chất, Quản lý nhà nước là “Hoạt động thực thi quyền hành pháp nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đạt được các mục tiêu của quốc gia một cách hiệu quả nhất trong từng giai đoạn phát triển”[19, tr.
- Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia là một loại quản lý mang tính đặc thù trong hoạt động quản lý nhà nước. Biên giới quốc gia – đối tượng của loại quản lý này là ranh giới xác định phạm vi lãnh thổ quốc gia, phạm vi thực hiện chủ quyền quốc gia và liên quan đến lãnh thổ quốc gia khác, chủ quyền quốc gia khác do các nước hữu quan cùng thoả thuận xác lập[37, tr 882]. Như vậy có thể hiểu quản lý nhà nước về biên giới quốc gia như sau: Quản lý nhà nước về biên giới quốc gia là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật Nhà nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ kinh tế - xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức n ng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới, bảo vệ và thực thi chủ quyền trên các tuyến biên giới. Xác lập đường biên giới Xác lập đường biên giới quốc gia là việc hoạch định và cố định đường biên giới trên các nguyên tắc cơ bản được các quốc gia có chung đường biên giới thỏa thuận.
Đối với biên giới và ranh giới của các vùng thuộc chủ quyền và quyền tài 8 phán quốc gia mà không liên quan đến các quốc gia khác thì nhà nước tự quy định đường biên giới và ranh giới đó phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế do cơ quan nhà nước có quyền lực cao nhất xác định bằng v n bản luật. Việc xác lập đường biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia, là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia. Vì vậy, mọi vấn đề liên quan đến việc xác lập đường biên giới quốc gia phải do các quốc gia có chung đường biên giới thỏa thuận, giải quyết thông qua đàm phán. Thông thường việc xác lập đường biên giới có 4 giai đoạn gồm: xác lập các nguyên tắc giải quyết, hoạch định biên giới, phân giới cắm mốc và quản lý biên giới (riêng việc xác lập đường biên giới trên biển, ranh giới giữa các vùng biển và thềm lục địa chỉ có giai đoạn vì không có giai đoạn phân giới cắm mốc).
- Giai đoạn 1: Xác lập các nguyên tắc giải quyết Đây là giai đoạn tiền đề mang tính cơ bản khi hai quốc gia chưa có đường biên giới, chưa xác lập đường biên giới hoặc đang tồn tại những tranh chấp nhất định. Giai đoạn này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó định rõ các nguyên tắc cơ bản để xác định một đường biên giới quốc gia và những công việc cần làm cho các giai đoạn tiếp theo. Việc xác định nguyên tắc giải quyết phụ thuộc vào quan điểm chính trị, nhận thức về một đường biên giới đã, đang tồn tại giữa hai quốc gia cũng như mối quan hệ giữa hai quốc gia và môi trường quốc tế. Thời gian để đạt được thỏa thuận cũng khó có thể xác định được chắc chắn.
Ví dụ, giữa Việt Nam với Lào hơn n m (từ 7 - 76) mới đạt được thỏa thuận theo nguyên tắc lấy đường biên giới được thể hiện trên mảnh bản đồ tỷ lệ /. của Pháp in n m 45 làm c n cứ chính; giữa Việt Nam và Campuchia mất n m đàm phán (từ 64 - 1983) mới đạt được thỏa thuận theo nguyên tắc lấy đường biên giới được thể hiện trên mảnh bản đồ tỷ lệ /. của Pháp in n m 54 làm c n cứ chính; Giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng mất n m (từ 74 - 1993) 9 mới đạt được thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa nước CHXNCN Việt Nam và CHND Trung Hoa. - Giai đoạn 2: Hoạch định biên giới Trên cơ sở các nguyên tắc đã đạt được trong giai đoạn xác lập các nguyên tắc giải quyết.
Hoạch định biên giới là quá trình đàm phán giữa hai nhà nước để thỏa thuận về vị trí và hướng đi của đường biên giới, giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ, các vùng chưa rõ ràng, quyết định một khu vực thuộc bên này hay bên kia hoặc phân chia cho cả hai bên. Kết quả của giai đoạn này là một v n bản pháp lý giữa hai bên (thông thường là một hiệp ước kèm theo bộ bản đồ) được đại diện có thẩm quyền của hai nhà nước ký kết và được cơ quan có quyền lực cao nhất của hai nước phê chuẩn. Sau đó hai quốc gia cử ra một cơ quan chung gọi là Ủy ban Liên hợp hoạch định biên giới giữa hai quốc gia. - Giai đoạn 3: Phân giới và cắm mốc trên thực địa Đây là giai đoạn mang tính kỹ thuật và vật chất đảm bảo để thi hành hiệp ước hoạch định.
Nhiệm vụ của giai đoạn này là xác định tính chính xác đường biên giới tại thực địa trên cơ sở đường biên giới được quy định trong hiệp ước hoạch định được hai bên ký kết kèm theo bộ bản đồ đường biên giới chính xác tại thực địa (được thể hiện bằng một hệ thống mốc giới). Giai đoạn phân giới cắm mốc là giai đoạn có ý nghĩa thực tiễn và rất cụ thể đòi hỏi về thời gian, công sức con người, vật chất đảm bảo. Thực tiễn cho thấy phân giới cắm mốc diễn ra khá phức tạp và kéo dài. Ví dụ: Pháp - Đức, Liên Xô - Thổ Nhĩ Kỳ mất 5 n m; Việt Nam - Campuchia từ n m đến nay trải qua hai giai đoạn nhưng mới phân giới cắm mốc được trên 0% số cột mốc và số kilomet đường biên giới.