phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của hoạt động chi trả BHXH và QLNN về chi trả BHXH. Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về chi trả BHXH trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014-2016. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về chi trả BHXH trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BHXH VÀ QLNN VỀ CHI TRẢ BHXH 1.
Một số khái niệm 1. Bảo hiểm Khái niệm Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm đƣợc xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu: xã hội, kinh tế, pháp lý nhƣ: - Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít [24, tr. - Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là ngƣời đƣợc bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho mình hoặccho ngƣời thứ ba, trong trƣờng hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận đƣợc một khoản đền bù các tổn thất đƣợc trả bởi một bên khác, đó là ngƣời bảo hiểm. Ngƣời bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phƣơng pháp của thống kê [24, tr.
Mỗi định nghĩa nêu trên thiên về một góc độ nghiên cứu về xã hội, kinh tế và pháp luật khác nhau. Để đáp ứng cả ba khía cạnh này, có thể nêu khái quát khái niệm bảo hiểm nhƣ sau: “Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền đƣợc hƣởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho ngƣời thứ ba trong trƣờng hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phƣơng pháp của thống kê” [24, tr. Phân loại - Phân loại theo phương thức quản lý: bảo hiểm đƣợc chia làm 2 hình thức là bắt buộc và tự nguyện, trong đó: 8 + Bảo hiểm tự nguyện là những loại bảo hiểm mà hợp đồng đƣợc thiết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thƣơng mại khi nó có vai trò nhƣ là một dịch vụ đối với hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con ngƣời. + Bảo hiểm bắt buộc đƣợc hình thành trên cơ sở luật định, nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất về ngƣời và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp, thƣờng là đối tƣợng của sự bắt buộc này. Ví dụ: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của ngƣời vận chuyển hàng không đối với hành khách, bảo hiểm cháy, nổ.
- Phân loại theo mục đích hoạt động: bảo hiểm đƣợc chia làm 2 loại là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thƣơng mại, trong đó: + Bảo hiểm xã hội là biện pháp bảo đảm, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ đƣợc tập trung từ sự đóng góp của ngƣời lao động. BHXH là trụ cột chính trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia. + Bảo hiểm thương mại là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua đóng phí để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bảo hiểm xã hội Khái niệm bảo hiểm xã hội BHXH có lịch sử khá lâu và đã đƣợc thực hiện ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Năm 1850, đạo luật BHXH đầu tiên đƣợc ban hành ở nƣớc Đức dƣới thời Thủ tƣớng Bismark. Theo đạo luật này, sự tham gia BHXH là bắt buộc và không chỉ ngƣời lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nƣớc cũng phải thực hiện nghĩa vụ 9 của mình (theo cơ chế ba bên). Năm 1935, Mỹ ban hành đạo luật đầu tiên về ASXH. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp.
Theo Công ƣớc số 102, đƣợc gọi là Công ƣớc về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu); do Hội toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 25/06/1952; “chế độ về ASXH gồm 9 nội dung: (1)Hệ thống chăm sóc y tế; (2)Hệ thống trợ cấp ốm đau; (3)Trợ cấp thất nghiệp; (4)Hệ thống trợ cấp tuổi già; (5)Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; (6)Trợ cấp gia đình; (7)Trợ cấp thai sản; (8)Hệ thống trợ cấp cho tình trạng không tự chăm sóc đƣợc bản thân; (9)Trợ cấp tiền tuất. Đồng thời ILO khuyến nghị các nƣớc thành viên phải thực hiện ít nhất 05 trong số 09 nội dung nêu trên bao gồm: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất” [10, tr 306]. Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận vì đƣợc tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau. Cụ thể nhƣ: - Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ ngƣời lao động, sử dụng tiền đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và đƣợc sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nƣớc, nhằm trợ cấp vật chất cho ngƣời đƣợc bảo hiểm và gia đình trong trƣờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thƣờng do ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nghỉ hƣu) hoặc chết.
- Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho ngƣời lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Khái niệm BHXH đƣợc khái quát một cách đầy đủ nhất trong Điều 3.1 Luật Bảo hiểm xã hội đã đƣợc Quốc hội Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XIII, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014 nhƣ sau “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị 10 giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [13, tr. Khái niệm ba bên trong hoạt động bảo hiểm xã hội Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH, trong đó: - Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật; gồm có ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc (trong một số trƣờng hợp). - Bên BHXH là bên nhận BHXH từ những ngƣời tham gia BHXH.
Bên BHXH thƣờng là một số tổ chức do Nhà nƣớc lập ra và đƣợc Nhà nƣớc bảo trợ, nhận sự đóng góp của ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH. Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên đƣợc BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH phát triển. - Bên được BHXH là bên đƣợc quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro đƣợc bảo hiểm gây ra. Trong BHXH, bên đƣợc BHXH là ngƣời lao động tham gia BHXH và thân nhân của họ, khi họ có phát sinh nhu cầu đƣợc BHXH.
Đặc trưng của bảo hiểm xã hội Từ việc nghiên cứu khái niệm về BHXH ở trên, ta có thể thấy BHXH có những đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: - BHXH là sự đảm bảo bù đắp thu nhập cho ngƣời lao động trong và sau quá trình lao động, đồng thời quyền lợi hƣởng các chế độ BHXH chỉ đƣợc chi trảkhi họ và ngƣời sử dụng lao động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. - Các hoạt động và các chế độ BHXH đƣợc thực hiện theo quy định của pháp luật. Nhà nƣớc quản lý và bảo hộ các hoạt động BHXH. Ngoài ra, hoạt động BHXH còn chịu sự giám sát chặt chẽ của ngƣời lao động thông qua tổ chức công đoàn và ngƣời sử dụng lao động thông qua tổ chức của giới chủ, theo cơ chế ba bên.
11 Nội dung của bảo hiểm xã hội BHXH là một hệ thống đa dạng và phức tạp với những nội dung khác nhau. Tuy nhiên, có thể tập trung vào bốn nhóm nội dung cơ bản sau: - Một là đối tượng bảo hiểm xã hội + Ngƣời lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tƣợng tham gia, vừa là đối tƣợng đƣợc bảo hiểm và họ cũng là đối tƣợng đƣợc hƣởng quyền lợi BHXH chiếm phần lớn trong các trƣờng hợp phát sinh trách nhiệm BHXH. + Đối tƣợng tham gia BHXH không chỉ có ngƣời lao động mà còn có ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc. Ngƣời sử dụng lao động tham gia BHXH là vì họ thấy đƣợc lợi ích thiết thực cho họ, đồng thời là do sự ép buộc của Nhà nƣớc thông qua quy định của pháp luật.
Đối với Nhà nƣớc thì khác, Nhà nƣớc tham gia BHXH với tƣ cách là chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức làm việc trong bộ máy Nhà nƣớc, đồng thời với tƣ cách bảo hộ cho sự tăng trƣởng của quỹ BHXH, nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự an toàn của xã hội. + Đối tƣợng đƣợc hƣởng quyền lợi BHXH là ngƣời lao động trong trƣờng hợp họ gặp rủi ro nhƣ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hƣu trí. Nhƣng trong trƣờng hợp ngƣời lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tƣợng hƣởng quyền lợi BHXH lại là thân nhân của ngƣời lao động nhƣ: cha, mẹ, vợ, chồng, con.