CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG VÀ TIÊU THỤ THỦY SẢN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm quản lý “Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào đối tượng quản lý nhằm đạ kết quả tốt nhất theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý thích hợp” ( Thân Danh Phúc, 2015, tr21). Quản lý được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: đầu vào, đầu ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu của quản lý. Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau. Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản lý phải giải quyết.
Mặt khác, chúng ảnh hưởng tới hiệu lực và hiệu quả của quản lý. “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động ” ( Nguyễn Đức Lợi, 2008 , tr12 ) Như vậy, chúng ta có thể hiểu “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường”.2 Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và các mục tiêu đã xác định trong từng giai đoạn phát triển của đất nước ( Thân Danh Phúc, 2015, tr 22). Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng được thực hiện thông qua hoạt động của cả 3 cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được giơi hạn ở hoạt động quản lý có tính chất nhà nước được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ) nhằm đạt tới các mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra. 6 Luan van Như vậy, có thể hiểu một cách cụ thể “Quản lý Nhà nước là một quá trình, trong đó các cơ quan của hệ thống bộ máy quyền lực của một quốc gia cấp Trung ương đến cấp cơ sở (ở Việt Nam là cấp xã, phường) thực hiện các tác động vào đối tượng là: hệ thống các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các đoàn thể và các hộ gia đình trong xã hội bằng các công cụ hành chính, (các chỉ thị, nghị quyết, quyết định) và các biện pháp phi hành chính(sử dụng các chính sách khuyến khích kinh tế, các chương trình hỗ trợ phát triển…) nhằm đạt được tới mục tiêu phát triển được định sẵn thể hiện qua các chủ trương, quy hoạch, kế hoạch phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường”.3 Khái niệm hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản Theo FAO: Nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, mặn và lợ, bao gồm áp dụng các kỹ thuật và quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất: thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Nuôi trồng thủy sản là một bộ phận cấu thành trong sản xuất nông nghiệp nên mang nhiều đặc điểm của sản xuất nông nghiệp. Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa.
Đó là những cách thức, những con đường kết hợp hữu cơ giữa những người sản xuất và trung gian khác nhau trong quá trình vận động và phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng. Tiêu thụ sản phẩm thủy sản được thể hiện trên kênh lưu thông qua nhiều cấp và nhiều khâu khác nhau. Tùy theo trình độ phát triển của mỗi nền sản xuất, lưu thông hàng hóa và tính chất của từng loại sản phẩm mà kênh tiêu thụ có thể ngắn hoặc dài, trực tiếp hay gián tiếp. Nghĩa là sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng có thể trực tiếp thông qua khâu trung gian hoặc gián tiếp phải qua nhiều khâu trung gian.
Sản phẩm thủy sản trực tiếp tới tay người tiêu dùng dưới hình thức bán lẻ ở ngay các ngư trại nuôi trồng thủy sản, hoặc có thể ở các làng cá trên bờ biển, hoặc có thể bán lẻ ở các chợ nông thôn và thành phố. Sản phẩm thủy sản lưu thông tới tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều khâu trung gian như: thương mại thu gom sản phẩm, chế biến, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng … Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu “ hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản là hoạt động nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, mặn, lợ để tạo ra các sản phẩm thủy sản, đồng thời nhờ quá trình phân phối sản phẩm thủy sản đến với người tiêu dùng cuối cùng để tạo ra giá trị cho sản phẩm thủy sản và lợi nhuận cho các bên liên quan: hộ nuôi trồng thủy sản, thương lái, công ty chế biến thủy sản và các công ty xuất khẩu thủy sản…” 7 Luan van 1.4 Khái niệm Quản lý nhà nước đối với hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản Chúng ta có thể hiểu: Quản lý nhà nước về hoạt động NT&TTTS là việc nhà nước ban hành và tổ chức chỉ đạo thực hiện những quy định, chính sách và kế hoạch liên quan tới hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản như: Xác định quy hoạch, kế hoạch nuôi trồng thuỷ sản, quy định việc xuất khẩu và nhập khẩu giống thuỷ sản, đi giống, thuần hoá giống, Thống nhất quản lý chất lượng giống xây dựng và quản lý hệ thông giống; Đăng ký giống quốc gia; thông nhất quản lý về thức ăn nuôi trồng thuỷ sản, thú y thuỷ sản; Quản lý tư tiêu chuẩn các loại vật, hoá chất, chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thuỷ sàn; Phối hợp với các Bộ ngành, các địa phương kiểm soát ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp và môi trường nuôi trồng thuỷ sản theo quy định của pháp luật; tổ chức chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch công nghiệp chế biến thủy sản; ban hành những chính sách nhằm thúc đẩy tiêu thụ thủy sản.2 Một số lý thuyết về quản lý nhà nước đối với hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản 1.1 Đặc điểm và vai trò của hoạt động nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản 1.1 Đặc điểm và vai trò của hoạt động nuôi trồng thủy sản - Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản: +, Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng khắp đất nước ta và tương đối phức tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác. Tính chất rộng khắp của ngành nuôi trồng thủy sản thể hiện nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ở khắp các vùng trong nước từ đồng bằng trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có đất đai diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản: Từ hồ ao, sông ngòi đến đầm phá, eo, vịnh… Mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau, do đó dẫn tới sự khác nhau về đối tượng sản xuất, về quy trình kỹ thuật, về mùa vụ sản xuất. Do đó trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của các ngành cần lưu ý đến các vấn đề như: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, chính sách giá cả, đầu tư cho phù hợp với từng khu vực, từng vùng lãnh thổ.
+, Trong nuôi trồng thủy sản đất đai, diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Đất đai, diện tích mặt nước là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của chúng lại rất khác, đất đai chỉ là nền móng xây dựng nhà máy công xưởng, trụ sở phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Trái lại trong nuôi trồng thủy sản, đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất 8 Luan van đặc biệt không thể thay thế được, không có đất đai diện tích mặt nước thì chúng ta không thể tiến hành nuôi trồng thủy sản được. +, Nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ cao.
Trong nuôi trồng thủy sản ngoài sự tác động của con người, các đối tượng nuôi còn chịu sự tác động của môi trường tự nhiên. Vì vậy trong nuôi trồng thủy sản, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất, do đó nghề nuôi trồng thủy sản mang tính thời vụ rất rõ rệt. Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng. +, Nuôi trồng thủy sản thường có chu kỳ dài và phần lớn được tiến hành ở ngoài trời nên chịu tác động và ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên.
- Vai trò của hoạt động nuôi trồng thủy sản: +, Duy trì, tái tạo các nguồn lợi thủy sản. Các nguồn lợi thủy sản là nguồn lợi tự nhiên với tính chất có hạn, khan hiếm khi khai thác đánh bắt một cách tràn lan, không có kế hoạch thì nguồn lợi này lại càng trở nên khan hiếm, thậm chí một số loài gần như tuyệt chủng. Chính vì vậy, để đảm bảo nguồn lợi này được duy trì và tiếp tục mang lại lợi ích cho con người thì cần có những kế hoạch khai thác hợp lý, khai thác kết hợp với việc bảo vệ, bổ sung tái tạo một cách thường xuyên thông qua hoạt động đánh bắt và NTTS là hai bộ phận cấu thành nên ngành thủy sản nhưng mang hai sắc thái hoàn toàn khác nhau, bổ sung lẫn nhau tạo nên sự phát triển chung của toàn ngành.