phần mở đầu, tổng quan về tình hình nghiên cứu, kết luận và phụ lục nội dung của luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận QLNN ở cấp huyện đối với GDMN, TH và THCS. Chƣơng 2: Thực trạng QLNN ở cấp huyện đối với GDMN, TH và THCS vùng ĐBSCL. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện QLNN ở cấp huyện đối với GDMN, TH và THCS vùng ĐBSCL đến năm 2020. 6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài - Một số công trình nghiên cứu về tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo Tác phẩm “Luận ngữ” [35], khi đề cao vai trò của GD, Khổng Tử cũng đã bộc lộ rõ mục đích GD là ĐT ra lớp ngƣời quân tử có đủ phẩm chất và năng lực để nhận chức của triều đình, trung thành phục vụ chế độ và làm lực lƣợng nòng cốt để ổn định và cải biến xã hội, hƣớng tới xây dựng xã hội lý tƣởng. Tác phẩm “Cú sốc tƣơng lai” của Alvin Toffler [1] và “Nền GD cho thế kỷ thứ XXI; những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dƣơng” của R.RoySingh [111] đã phác họa ra viễn cảnh của nền GD và xã hội trong tƣơng lai là tập trung vào các vấn đề về hệ thống nhà trƣờng, xu hƣớng phát triển GD, phƣơng pháp GD và mô hình nhân cách, trong đó nhấn mạnh con ngƣời là trung tâm của GD. 7 Với quan điểm coi học tập là quá trình liên tục kéo dài suốt cả cuộc đời, tổ chức quốc tế UNESCO khuyến cáo phải nhìn nhận lại cả nội dung và cách tổ chức GD các cấp học [165],[168],[169]. Allan Walker trong công trình khoa học “Một số vấn đề về quản lý GD ở Australia” [2] đã chỉ ra: “Nhà trƣờng hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả học sinh, làm cho học sinh vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức” Với tƣ tƣởng „„Tinh thần Nhật Bản - Công nghệ phƣơng Tây”, tiếp thu các giá trị văn minh của nhân loại, đất nƣớc Nhật Bản đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực.
Trong lĩnh vực GD, với chính sách “Không để một trẻ em nào trong gia đình và không để một gia đình nào trong cộng đồng không đƣợc GD” [92]. GD hƣớng đến sự bảo đảm phát triển hài hòa của trẻ em về mọi mặt từ trái tim, trí tuệ, tình cảm, tinh thần, thái độ, hệ thống giá trị, nhân văn.v…và trở thành triết lý GD cơ bản (kokoro) của nƣớc Nhật. Các nhà khoa học Nga đã đi sâu nghiên cứu ý tƣởng “học tập kết hợp với lao động sản xuất” để hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh, những ý tƣởng đó có giá trị lớn cả mặt chính trị lẫn kinh tế - xã hội.Krupxkaia trong cuốn sách “Hoàn thiện quá trình dạy học” đã chỉ ra rằng: “Giáo viên dạy lao động cần trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ năng, kỷ thuật tổng hợp đại cƣơng cần thiết cho ngƣời lao động các nghề khác nhau để lao động sản xuất” [93, tr123]. Chính vì vậy, qua các lần cải cách GD (1956-1966 và 1984-1986), GD Xô Viết luôn chú trọng tăng cƣờng GD lao động cho học sinh phổ thông trên cơ sở gắn với lao động sản xuất.
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam [80], Hội thảo khoa học Xã hội hoá GDĐT, nhấn mạnh GD có vai trò quyết định đến tăng trƣởng kinh tế. Tại hội nghị quốc tế mang tên “Những đe doạ và hứa hẹn ở ngƣỡng cửa thế kỷ 21” của 74 ngƣời đạt giải Nô-ben, đã có 16 kết luận thông qua. Trong đó kết luận thứ 7 là: “GD phải thành ƣu tiên tuyệt đối trong mọi ngân sách và phải giúp vào việc đề cao mọi khía cạnh sáng tạo của con ngƣời”. Rõ ràng GD có tầm quan trong đặc biệt ƣu tiên đối với các nhà khoa học trên thế giới.
8 - Một số công trình nghiên cứu về phân cấp QLGD, phân cấp QLNN về GD Tác phẩm “Phân cấp QLHC- chiến lƣợc cho các nƣớc đang phát triển”, của Denis.Rondnelli và John. Một số quốc gia châu Á, tiến hành phân cấp mạnh QLNN về GD nhƣ: Nhật Bản cho Chính quyền và các cơ quan quản lý GD địa phƣơng (Prefectural Board of Education), các cơ sở GD có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong quá trình quản lý và thực thi các hoạt động GD trong phạm vi quản lý, Trung Quốc phân cấp chính quyền cấp huyện có vai trò quản lý các trƣờng THCS, TH và mẫu giáo. GD đƣợc nhiều quốc gia quan tâm và xem đó là động lực quan trọng hàng đầu đối với việc ĐT nguồn nhân lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chính vì thế mà nhiều tác giả ngoài nƣớc tập trung nghiên cứu về GD. Các nghiên cứu trong nƣớc - Tư tưởng, quan điểm, cơ sở pháp lý để thực hiện nghiên cứu đề tài luận án.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh [85],[86],[87],[88],[89],[90] về GD là nền tảng tƣ tƣởng GD Việt Nam. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh luôn đề cao GD và đặc biệt quan tâm ĐT, BD thế hệ trẻ, BD thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Mục đích của nền GD cách mạng phải nhằm ĐT cán bộ cho cách mạng, GD toàn diện nhƣng phải phù hợp ở mỗi đối tƣợng, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nƣớc nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế. Trong QLNN về GD phải đảm bảo phƣơng châm: Học đi đôi với hành, GD phải gắn liền với xã hội.
Phối hợp Nhà trƣờng gia đình và xã hội. Thực hiện dân chủ bình đẳng trong GD. Trong tập sách Hồ Chí Minh bàn về công tác GD do Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội ấn hành năm 1972 đã tập hợp nhiều bài viết của Ngƣời bàn về công tác GD. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tập sách này là tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh đối 9 với mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp GD.
Đây chính là cẩm nang, là cơ sở khoa học để Đảng ta vận dụng, lãnh đạo sự nghiệp GD nƣớc ta trong suốt thời gian qua. Phải chăm lo, dạy dỗ, ĐT các em thành ngƣời công dân tốt, ngƣời lao động tốt, ngƣời cán bộ tốt, ngƣời chiến sĩ tốt, trung với nƣớc, hiếu với dân, có lòng yêu nƣớc nồng nàn, có đạo đức trong sáng, cần - kiệm - liêm - chính - chí công - vô tƣ, có tri thức và sức khỏe để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm cho dân giàu, nƣớc mạnh. Về nội dung GD, Ngƣời chỉ rõ: Phải chú trọng GD đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, kỹ thuật, lao động sản xuất. Ngƣời nhấn mạnh: "Tăng cƣờng hơn nữa việc GD lao động trong nhà trƣờng là một khâu chủ yếu trong toàn bộ sự nghiệp GD xã hội chủ nghĩa, nhằm trang bị cho thế hệ trẻ có những kiến thức khoa học, lại có những kiến thức cơ bản về sản xuất công nghiệp - nông nghiệp, những thói quen lao động, sẵn sàng bƣớc vào xây dựng xã hội chủ nghĩa"[85, tr 219].
Theo Ngƣời, nội dung GD phải chứa đựng tính dân tộc, tính khoa học và tính nhân dân; phải làm cho ngƣời học hiểu đƣợc những truyền thống quý báu của dân tộc nhƣ tinh thần yêu nƣớc nồng nàn, đoàn kết, tƣơng thân tƣơng ái, anh hùng trong chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất. Chú trọng BD phƣơng pháp tự phát huy nội lực, tƣ duy biện chứng Mác - Lênin, óc tƣ duy lý luận, tƣ duy kỹ thuật, tƣ duy kinh tế, óc phê phán và sáng tạo cho ngƣời học. Phƣơng pháp GD phải xuất phát và bám chắc vào mục tiêu GD; GD là một khoa học; phải biết kết hợp học tập với việc chơi, dạy từ dễ đến khó; GD thế hệ trẻ phải thực hiện phƣơng pháp nêu gƣơng; phải gắn liền với thi đua. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là nền tảng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI [56],[57], [58], quan điểm chủ trƣơng của Đảng Cộng Sản Việt Nam - căn cứ khoa học cơ bản trong quản lý nhà nƣớc về giáo dục, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng, mục tiêu chiến lƣợc phát triển GDĐT ở nƣớc ta gồm các nội dung: GD và ĐT là quốc sách hàng đầu; GD nhằm nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, BD nhân tài; GD phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nƣớc, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại; Xã hội hoá, đa dạng hóa các hình thức GDĐT. Quan điểm trên là định hƣớng toàn diện trong quá trình nghiên cứu, là kim chỉ nam trong việc đề xuất các giải pháp. 10 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) [67], luật GD (1998) [102], luật GD (2005) [107], luật GD (sửa đổi năm 2009) [108] và các văn bản dƣới luật là hành lang pháp lý quan trọng liên quan đến đề tài. - Các nghiên cứu lý luận giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục.
Trong nƣớc, có nhiều nhà khoa học đề cập trong các tác phẩm kinh điển, giáo trình, các đề tài khoa học, các cuộc hội thảo, các bài viết trên Tạp chí khoa học.Các nhà khoa học giáo dục đã nghiên cứu lý luận cơ bản về quan điểm, định hƣớng, khái niệm, các cách tiếp cận, đặc điểm, nội dung, hệ thống GD quốc dân trong QLNN về GD ở nƣớc ta hiện nay và trong tƣơng lai: Phạm Minh Hạc [61],[62] [63],[64], đề cập những thời cơ và thách thức và một số quan điểm về phát triển GD Việt Nam trong thế kỷ 21, những định hƣớng phát triển văn hoá và nguồn nhân lực thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc. Nguyễn Cảnh Toàn [142], tham luận phát biểu tại hội thảo khoa học GD Việt Nam “Hiện tƣợng, thách thức và giải pháp phát triển GD Việt Nam”, tại Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 23/9/1999, đề cập tầm quan trọng, thách thức và các giải pháp phát triển GD Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu nền GD nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay là đƣa hiệu suất của việc nâng cao dân trí, ĐT nhân lực, BD nhân tài lên đến đỉnh cao nhất bằng cách kết hợp một cách khoa học nhất sức mạnh của “hiện đại” và sức mạnh của truyền thống dân tộc, vận dụng một cách tinh vi của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tƣ tuởng Hồ Chí Minh, kết hợp khéo léo thô sơ và hiện đại, khơi dậy đến mức cao nhất của nội lực tiềm tàng.