phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, hình vẽ, và danh mục tài liệu tham khảo; nội dung của luận án gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tƣ thục - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tƣ thục ở Việt Nam - Chƣơng 3: Hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tƣ thục ở Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Luận án đã có những đóng góp nhất định về ý nghĩa khoa học và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với khu vực GDĐHCĐTT. Để từ đó giúp cho các nhà quản lý giáo dục, các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo nhằm đƣa ra những quyết sách quản lý tốt hơn trong thời gian tới. Ý nghĩa khoa học của án: Thứ nhất: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ, bổ sung thêm vào hệ thống cơ sở lý luận về đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tƣ thục.
Thứ hai: S các với sự hỗ trợ của phần mền SPSS tính toán kết quả khảo sát, phục vụ cho khu vực giáo dục. Thứ ba: Xây dựng hàm hồi quy bằng phƣơng pháp OLS với sự hỗ trợ của phần mềm EVIEWS 6.0 để tính toán một chỉ tiêu chủ yếu, kết hợp với kết quả khảo sát làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp. Ý nghĩa của luận án: Thứ nhất: Đánh giá thực trạng tình hình hoạt động của khu vực giáo dục tƣ 5 thục. Chỉ ra đƣợc những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nƣớc đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tƣ thục.
Thứ hai: Xây dựng mô hình quản lý nhà nƣớc đối với khu vực giáo dục đại học cao đẳng tƣ thục mang đặc thù của Việt Nam, có tham khảo mô hình của một số quốc gia phát triển trên thế giới. Thứ ba: Đề xuất những p hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về giáo dục đại học, cao đẳng tƣ thục trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng Xã hội chủ nghĩa. Có những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống này ở nƣớc ta trong thời gian tới. CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TƢ THỤC 6 1.1 HỆ THỐNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TƢ THỤC VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG 1.1 Sự hình thành và phát triển hệ thống trƣờng đại học cao đẳng tƣ thục 1.1 Khái niệm Trường Đại học tư thục Bất kỳ quốc gia nào cũng cần có nguồn nhân lực đƣợc đào tạo để thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu mọi mặt ngày càng cao của ngƣời dân.
Hệ thống giáo dục quốc gia đƣợc hình thành nhằm đào tạo, huấn luyện và cung cấp cho xã hội các chuyên gia, nhà quản lý và thợ lành nghề cho các ngành và các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Xét theo bậc đào tạo, hệ thống giáo dục quốc gia bao gồm từ giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, trung học đến giáo dục đại học - cao đẳng và dạy nghề. Nhìn chung một cách chính thống, hệ thống giáo dục ban đầu đƣợc hình thành và vận hành bởi các chính phủ. Tuy nhiên, mầm mống ban đầu của hệ thống giáo dục này là giáo dục tư nhân tự phát, trong các gia đình, các cộng đồng nhỏ.
Điều này xuất phát từ yêu cầu sống còn của cuộc đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển của con ngƣời. NHÂN LỰC ĐƢỢC ĐÀO TẠO Giáo dục đại học và cao đẳng Giáo dục nghề Giáo dục trung học cơ sở và phổ thông Giáo dục tiểu học Giáo dục mầm non NGƢỜI HỌC Hình 1. Sơ đồ đào tạo nhân lực tại Việt Nam Cùng với sự ra đời của nhà nƣớc và sự phát triển của kinh tế xã hội, nhu cầu nhân lực ngày càng cao cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng, giáo dục tƣ nhân tự phát không còn thích hợp và nhà nƣớc cần phải nhận lãnh trách nhiệm hình thành và vận hành hệ thống giáo dục quốc gia để đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên do nguồn lực của các chính phủ là hữu hạn và nhu cầu nhân lực lại rất lớn nên sự tham gia chính thức của khu vực tƣ nhân là một tất yếu khách quan, kết quả là hệ thống giáo dục 7 quốc gia ngày nay đƣợc quản lý bởi chính phủ nhƣng bao gồm cả khu vực nhà nƣớc và cả khu vực tƣ nhân.
Trên thế giới hiện nay, căn cứ vào tiêu chí quyền sở hữu, sự góp vốn và vai trò của các sáng lập viên, ngƣời ta chia các trƣờng đại học trên thế giới thành ba loại: trƣờng đại học công lập, trƣờng đại học tƣ thục và trƣờng đại học do các tổ chức tôn giáo thành lập và quản lý. Tại các quốc gia khác nhau, tùy thuộc điều kiện kinh tế, xã hội và lịch sử của mỗi nƣớc, tầm quan trọng của mỗi loại trƣờng này trong hệ thống đào tạo quốc gia là rất khác nhau. Tại nhiều quốc gia Châu Âu nhƣ Áo, Đức, Pháp, Thụy Sỹ hay Anh Quốc, các trƣờng đại học tổng hợp hầu hết là công lập, song đƣợc hƣởng một chế độ tự trị, tự quản rất cao. Ngƣợc lại, ở Hàn Quốc, Nhật Bản hay Hoa Kỳ, các trƣờng đại học tƣ thục chiếm vai trò và tỷ trọng lớn hơn, nhiều trƣờng đại học tƣ thục trong các quốc gia này có chất lƣợng hàng đầu thế giới.
Ở Hoa Kỳ, Châu Mỹ La tinh, và Philipines có những trƣờng đại học đƣợc thành lập và quản lý bởi các tổ chức tôn giáo. Ở các quốc gia khác, trong đó có cả các quốc gia đang phát triển, từ gần ba thập kỷ nay ngƣời ta đã cho phép thành lập các trƣờng đại học tƣ thục. Ở nƣớc ta, trƣờng đại học tƣ thục là cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc gia, do cá nhân hoặc một nhóm cá nhân là công dân Việt Nam xin phép thành lập và tự đầu tƣ. Trƣờng đại học tƣ thục có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và đƣợc mở tài khoản tại các ngân hàng hoặc kho bạc nhà nƣớc để giao dịch.
Trƣờng đại học tƣ thục bình đẳng với trƣờng đại học công lập, bán công, dân lập về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trƣờng, của giảng viên và ngƣời học trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chƣơng trình, tổ chức quá trình đào tạo, bao gồm tuyển sinh, dạy và học, thi, kiểm tra công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ. Theo quan điểm của Đảng và nhà nƣớc đƣợc quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có nêu “Trường đại học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn huy động từ ngoài nguồn ngân sách Nhà nước”.1] Nhƣng cũng có quan điểm cho rằng, trƣờng tƣ thục là trƣờng do cá nhân, nhóm cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội đầu tƣ xây dựng và nuôi dƣỡng nó để hoạt động, nếu làm tƣờng minh, tài sản của một trƣờng tƣ thục thƣờng thuộc nhiều dạng sở hữu nhƣ: sở hữu tƣ nhân, sở hữu của cả cộng đồng nhà trƣờng, sở hữu nhà nƣớc (nếu có), ví dụ nhƣ là sở hữu tài sản do nhà nƣớc đầu tƣ qua các chƣơng trình xây dựng phòng thí nghiệm chuyên đề… Ở các nƣớc, các trƣờng đại học tƣ thục lại chia thành hai loại, trƣờng đại học tư thục vì lợi nhuận - đƣợc tổ chức và hoạt động không khác các công ty đối vốn và 8 các trƣờng đại học tư thục phi lợi nhuận, không đƣợc tổ chức nhƣ các công ty cổ phần. Tại các quốc gia có hệ thống đào tạo đại học tiên tiến nhƣ Hoa Kỳ, các trƣờng đại học tƣ thục tuy đƣợc tổ chức và có tên gọi nhƣ các công ty, song là các công ty hay tổ chức bất vụ lợi, không vì mục đích lợi nhuận, không đƣợc chia lãi, vì thế trong điều lệ các trƣờng tƣ thục loại đó không có khái niệm cổ đông, không chia cổ tức cho ngƣời góp vốn nhƣ tại các công ty cổ phần. Sở dĩ có điều đó bởi pháp luật các quốc gia này chia công ty thành hai loại, có những công ty vì lợi nhuận (doanh nghiệp) và những công ty bất vụ lợi, hoạt động không vì lợi nhuận.
Cách thức tổ chức và chế độ thuế áp dụng cho hai loại công ty này rất khác nhau. Nhƣ vậy, từ các quan điểm và thông tin trên, một cách chung nhất có thể hiểu: “Trường đại học tư thục là cơ sở đào tạo do các tổ chức hay cá nhân đứng ra thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất với nguồn kinh phí được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, hoạt động trong khuôn khổ luật pháp, nhằm đào tạo nhân lực cho nhu cầu của xã hội với mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận”.2 Các đặc điểm nổi bật của trường tư thục Khái niệm về trƣờng tƣ thục thƣờng đƣợc sử dụng một cách lỏng lẻo, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, các nhà giáo dục cũng nhƣ ngƣời dân đôi khi sử dụng khái niệm này một cách không đồng nhất. Tuy nhiên, nhìn chung, chúng ta có thể phân biệt khái niệm trƣờng tƣ và trƣờng công theo các tiêu chí sau đây: (1) Quyền sở hữu (Vốn bằng tiền và bằng hiện vật ban đầu khi thành lập trƣờng); (2) Nguồn kinh phí hỗ trợ từ Nhà nƣớc (Có hay không có sự hỗ trợ về vốn của nhà nƣớc); (3) Vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận; và (4) Địa vị pháp lý (theo văn bản pháp lý nào) và tƣ cách pháp nhân. Phần sau đây sẽ làm rõ hơn các tiêu chí này.
(1) Quyền sở hữu Chúng ta đều biết rằng cốt lõi của kinh tế thị trƣờng là quyền sở hữu. Quyền đƣợc hƣởng trực tiếp lợi tức từ vốn đầu tƣ sẽ thúc đẩy việc đầu tƣ vào các nhà máy hay cơ sở kinh doanh thƣơng mại hoặc trƣờng học, bệnh viện. Quyền đƣợc hƣởng thành quả lao động của bản thân sẽ thúc đẩy thị trƣờng lao động và phân phối lợi nhuận. Quyền chuyển nhƣợng tài sản là điều cần thiết cho việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.
Chỉ có thông qua sự chuyển nhƣợng này mọi loại quyền sở hữu mới có thể đạt đƣợc giá trị sử dụng cao nhất của nó.