Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ 1. Những vấn đề chung về Hội và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ 1. Khái niệm hội Hội ra đời từ rất sớm, ngay từ khi con người ý thức được sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhau giữa các nhóm người, cộng đồng người. Xã hội ngày càng phát triển, trình độ phát triển và nhu cầu của các tầng lớp nhân dân ngày càng cao thì sự phát triển của hội càng gia tăng và phong phú theo.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia có một khái niệm riêng về hội. Nghiên cứu khái niệm của một số quốc gia giúp chúng ta có được một cách nhìn toàn diện, tổng quan về Hội. Luật Hội của Cộng hoà Liên bang đức do Quốc hội ban hành ngày 5/8/1964 quy định: Hội theo quy định của luật này là sự liên kết tự nguyện, lâu dài của các cá nhân và pháp nhân với nhau nhằm thực hiện một mục đích chung và tuân theo một quy định hình thành từ ý chí tập thể có tổ chức, bất kể dưới hình thức pháp lý nào. Luật số 8 về Hội (Đoàn thể quần chúng) năm 1985 của In-đô- nê-xi-a quy định: Hội: Đoàn thể do công dân Cộng hoà In-đô-nê-xi-a thành lập một cách tự nguyện trên cơ sở có cùng hoạt động, cùng nghề nghiệp, cùng tôn giáo và có cùng lòng tin vào thượng đế vĩ đại duy nhất để vai trò tham gia vào công cuộc xây dựng trong khuôn khổ đạt được mục tiêu quốc gia, trong một quốc gia thống nhất trên nền tảng của Pancassila.
Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà dân chủ Đức ngày 09/11/1967 quy định: “Hội theo Nghị định này là tập hợp có tổ chức của công 7 Luan van dân hoặc pháp nhân để thực hiện những lợi ích của mình và đạt được những mục đích chung”. Ở Việt Nam hiện nay các hội quần chúng hoạt động theo nhiều lĩnh vực hết sức đa dạng và phong phú, mỗi hội đều có những đặc điểm, dấu hiệu bản chất của từng loại hội. Các hội khoa học kỹ thuật: có các dấu hiệu bản chất và riêng biệt như: Là tổ chức tự nguyện của giới trí thức, khoa học kỹ thuật trong hầu hết các ngành trong nước. Hoạt động chủ yếu là nghiên cứu, khám phá lý thuyết và ứng dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ đời sống, góp phần phổ biến kiến thức khoa học và kỹ thuật cho quần chúng.
Các hội nhân đạo, từ thiện: Có các dấu hiệu bản chất và riêng biệt: Là tổ chức tự nguyện của nhân dân Hoạt động vì mục đích nhân đạo, từ thiện, góp phần làm giảm bớt khó khăn cho những đối tượng dễ bị tổn thương, những người nghèo trong xã hội. Các hội văn hoá, nghề nghiệp: Có các dấu hiệu bản chất riêng biệt: Là tổ chức tự nguyện của những người có cùng sở thích (văn nghệ dân gian, tem, mỹ nghệ…) Hoạt động chủ yếu của Hội là nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu, truyền bá, bảo tồn, phát triển đối tượng thuộc lĩnh vực văn hoá hoạt động của mình. Các hội hoà bình và hữu nghị: Có các dấu hiệu bản chất và riêng biệt: Là tổ chức tự nguyện Hoạt động theo đường lối đối ngoại nhân dân, với phương châm muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Hội là tổ chức của những người cùng nghề nghiệp, hay cùng chính kiến, tự nguyện và tập hợp lại để tiến hành 8 Luan van các hoạt động kinh tế như buôn bán, sản xuất, kinh doạn hoặc các hoạt động văn hoá, xã hội hay cũng có thể là chính trị, được thành lập do luật pháp quy định. Hội có điều lệ, quy định tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức hoạt động.
Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, nhiều hội hoạt động trên lĩnh vực kinh tế ra đời, có tác dụng tham gia phát triển kinh tế và động viên mọi năng lực của mọi thành phần kinh tế và mọi người có khả năng hoạt động kinh tế. Có trường hợp hội là tổ chức chính trị…” Theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ- CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, thì: “Hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan” [5, tr. Như vậy, hội là tổ chức tự nguyện, là một trong những hình thức, phương pháp để con người tích cực và chủ động tham gia vào các công việc chung của cộng đồng. Sự phát triển của hội gia tăng và phong phú theo trình độ phát triển của xã hội loài người nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức nhất định trong nhân dân như các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, xã hội – nhân đạo hoặc các tổ chức liên hợp lại với nhau cùng chung những mục tiêu hoặc những lợi ích như nhau.
Nhìn chung, hội có thể có những hình thức tổ chức, phương thức hoạt động khác nhau, nhưng đều hướng đến thực hiện các mục tiêu và vai trò xã hội là: chăm lo, bảo vệ và đáp ứng các nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân; đoàn kết, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh 9 Luan van thần; phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân, động viên quần chúng tuyên truyền và tham gia xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Tuỳ theo đặc điểm, yêu cầu đòi hòi mà hội mang tính chất chính trị, xã hội, nghề nghiệp khác nhau. Có hội mang tính xã hội như Hội Người cao tuổi; có hội mang tính nghề nghiệp rõ ràng như Hội nhà văn, Liên đoàn bóng đá… có hội vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội, lại vừa mang tính nghề nghiệp… Tuy nhiên, dù là loại hình hội quần chúng nào cũng đều chịu sự tác động và quản lý của nhà nước. Hội xây dựng tổ chức và hoạt động theo 5 nguyên tắc cơ bản: Tự nguyện, tự quản, dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tự đảm bảo hoặc đảm bảo một phần kinh phí hoạt động; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ hội. Về hình thức tổ chức, hội có các mô hình tổ chức với những tên gọi khác nhau: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân.
Về tính chất hoạt động đã được quy định cụ thể như: tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp… Từ đó có thể rút ra khái niệm chung về hội như sau: Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của một nhóm người hoặc tổ chức, hoạt động thường xuyên, không vì mục đích lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên hoặc vì lợi ích công cộng. Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân và hội không có tư cách pháp nhân. Khái niệm về Hội Chữ thập đỏ Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là tổ chức xã hội hoạt động nhân đạo, Hội tập hợp mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, không phân biệt thành phần, dân tộc, tôn giáo, giới tính để làm nhân đạo. Mục đích cao cả của 10 Luan van Hội là nhân đạo, hoà bình, hữu nghị, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là Hội Chữ thập đỏ quốc gia duy nhất tại Việt Nam; hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong công tác nhân đạo và hoạt động chữ thập đỏ. Hội được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc: hiệp thương dân chủ, thống nhất hành động; tự nguyện, không vụ lợi; công khai, minh bạch, đúng mục đích đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả, không phân biệt đối xử, phù hợp với truyền thống nhân ái của dân tộc; sử dụng Biểu tượng Chữ thập đỏ; không được lợi dụng hoạt động của Hội làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Điều 2, Luật hoạt động Chữ thập đỏ số 11/2008/QH12 quy định: “Hoạt động chữ thập đỏ là hoạt động nhân đạo dựa vào cộng đồng do Hội Chữ thập đỏ thực hiện hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân thực hiện về cứu trợ khẩn cấp và trợ giúp nhân đạo; chăm sóc sức khoẻ; sơ cấp cứu ban đầu; hiến máu nhân đạo, hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác; tìm kiếm tin tức thân nhân thất lạc do chiến tranh, thiên tai, thảm họa; tuyên truyền các giá trị nhân đạo; tham gia phòng ngừa, ứng phó thảm họa”. Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với Hội Chữ thập đỏ 1.
Khái niệm quản lý nhà nước: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình hoạt động của xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Hệ thống quản lý gồm 2 phân hệ: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều giải pháp khác nhau. Thực chất hoạt động quản lý là việc xử lý mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
11 Luan van Chủ thể quản lý luôn là con người có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô, độ phức tạp của khách thể quản lý. Khách thể quản lý là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lý bao gồm con người, nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất v. Con người là yếu tố quan trọng nhất trong khách thể quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức.
Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người.