Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công (mã số 62 34 82 01) của tác giả Phùng Văn Hiền với đề tài "Quản lý nhà nước dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước trong giáo dục đại học và sau đại học ở Việt Nam" được bảo vệ năm 2014 tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đinh Văn Tiến và TS. Đặng Xuân Hoan.
Về tính cấp thiết, văn bản chỉ rõ trong giai đoạn 1998–2010, chi ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho giáo dục và đào tạo liên tục tăng từ hơn 13% lên đến 20% tổng chi ngân sách, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục ở mức cao. Riêng năm 2012, theo Quyết định số 3008/QĐ-BTC ngày 14/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục chiếm gần 24% tổng chi ngân sách thường xuyên của quốc gia. Mặc dù nguồn lực phân bổ rất lớn, hiệu quả đầu tư và công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với các dự án đầu tư từ NSNN trong giáo dục đại học và sau đại học (GDĐH&SĐH) còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: đầu tư dàn trải, tiến độ giải ngân chậm, thất thoát, lãng phí và chất lượng đào tạo chưa tương xứng.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các cơ sở khoa học và hệ thống văn bản pháp lý chuyên biệt điều chỉnh hoạt động QLNN đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực GDĐH. Trong khi các dự án đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) phải áp dụng khung pháp lý chung của ngành xây dựng vốn thường xuyên thay đổi và phát sinh bất cập, thì các dự án phi xây dựng công trình (nghiên cứu khoa học, đổi mới giáo trình, phát triển đội ngũ giảng viên, tín dụng sinh viên, chính sách học bổng - học phí) lại thiếu quy chế quản lý thống nhất, phân tán quyền hạn giữa các bộ, ngành và chưa được nghiên cứu toàn diện dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở khoa học về QLNN đối với các dự án đầu tư từ NSNN cho đào tạo trình độ đại học và sau đại học; khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý giai đoạn 2000–2012; từ đó đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN trong giai đoạn đến năm 2020.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản đánh số cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học về QLNN đối với các dự án đầu tư từ NSNN cho đào tạo trình độ ĐH&SĐH ở Việt Nam.
- Nêu lên thực trạng QLNN đối với các dự án đầu tư từ NSNN trong GDĐH&SĐH ở Việt Nam từ quá trình hình thành, thẩm định, phê duyệt, triển khai thực hiện dự án, khai thác dự án; xác định những nguyên nhân, hạn chế tồn tại trong quá trình nghiên cứu khả thi đến khai thác dự án đầu tư.
- Xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư từ NSNN cho đào tạo trình độ ĐH&SĐH thời gian tới ở nước ta.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động QLNN các dự án đầu tư từ NSNN cho đào tạo trình độ ĐH&SĐH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khách thể khảo sát là hệ thống trên 400 trường cao đẳng và đại học trên cả nước.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Tập trung vào QLNN đối với các dự án đầu tư bằng NSNN cho đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục công lập theo quy định của Luật Giáo dục đại học năm 2012 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2013). Cấp học cao đẳng chỉ được đề cập ở số liệu thống kê nhằm so sánh quy mô tăng trưởng.
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng giai đoạn 2000–2012 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn sau 2012 đến năm 2020.
- Về không gian: Giới hạn trong phạm vi toàn quốc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan trực tiếp đến đề tài theo hai nhóm chính.
Ở nhóm công trình trong nước, tác giả điểm lại các nghiên cứu:
- Quản lý chi tiêu công và phân bổ ngân sách: Đề tài khoa học B2002-22-27 của Dương Thị Bình Minh (2005) về nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công giai đoạn 2000–2010; đề tài B2003-22-44 của Sử Đình Thành (2005) về vận dụng phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi tiêu công; luận văn thạc sĩ (2011) về quản lý chi NSNN trong hội nhập kinh tế toàn cầu; luận văn thạc sĩ hành chính công của Phùng Văn Hiền (2007) về hoàn thiện QLNN đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN; luận văn của Nguyễn Trọng Trung (2008) về hiệu quả chi NSNN cho chương trình mục tiêu quốc gia GD&ĐT.
- Đầu tư và tài chính giáo dục đại học: Công trình của Nguyễn Thị Tuyết Mai về đầu tư phát triển ngành GD&ĐT; luận văn thạc sĩ về quản lý tài chính các trường đại học công lập đến năm 2010; luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Đức Cường (2009) về hoàn thiện pháp luật quản lý các trường đại học, cao đẳng nhằm bảo đảm quyền tự chủ; luận văn của Nguyễn Thùy Hương về thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho giáo dục giai đoạn 1993–2010; nghiên cứu của Phạm Thị Ly (2011) về học phí đại học và trách nhiệm giải trình; bài viết của Nguyễn Đắc Hưng (2011) trên Tạp chí Cộng sản điện tử về chính sách tín dụng ưu đãi sinh viên; đề án đổi mới GDĐH của Bành Tiến Long (2005) tập trung vào phát triển đội ngũ giảng viên và đổi mới cơ chế tài chính.
Ở nhóm công trình nước ngoài, luận án khảo cứu nhiều tài liệu về tài trợ công cho GDĐH:
- Báo cáo của Nhóm nghiên cứu độc lập về GDĐH của Australia (2011) về phân bổ ngân sách theo nhu cầu người học và đo lường hỗ trợ sinh viên;
- Nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách GDĐH Châu Âu (CHEPS) về tiến trình cải cách tài chính tại 33 quốc gia Châu Âu;
- Báo cáo của Neal McCluskey và Chris Edwards (Viện Cato) về trợ cấp GDĐH qua ba kênh: cấp cho trường, cấp cho người học và cho vay;
- Nghiên cứu của Haroon Chowdry tại Vương quốc Anh về gánh nặng chi phí công và tính ngoại hiện tích cực (positive externalities) của GDĐH;
- Nghiên cứu của William Zumeta tại Hoa Kỳ về phản ứng ngân sách của các bang trong khủng hoảng kinh tế;
- So sánh cơ chế tài trợ giữa Anh và Mỹ của Mariam Orkodashvili;
- Báo cáo của Franz Strehl, Sabine Reisinger và Michael Kalatschan (OECD, 2007) về hệ thống tài chính GDĐH tại các quốc gia như Latvia;
- Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về khu vực Đông Á, phân tích Quỹ tín dụng sinh viên của Thái Lan (giai đoạn 1996–2006 giải ngân hơn 5,7 tỷ USD cho 2,6 triệu người vay), cơ chế tài trợ cạnh tranh tại Indonesia, Mông Cổ và chính sách đầu tư trọng điểm tại Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines;
- Nghiên cứu của Lorenz Lassnigg tại Áo về cơ chế phân bổ ngân sách theo tỷ lệ 80/20 dựa trên thỏa thuận hiệu quả (performance agreement);
- Nghiên cứu về tài chính sinh viên tại Hà Lan từ bao cấp sang chia sẻ chi phí;
- Các lý thuyết kinh tế chính trị của Tilak về 14 yếu tố và 8 mâu thuẫn giữa nhà nước và thị trường; phân loại 4 mô hình tài trợ của Rainald Borck và Martin Wimbersky.
| Tác giả / Tổ chức |
Năm |
Tên công trình / Chủ đề nghiên cứu |
Hướng tiếp cận và khoảng trống còn để lại |
| Dương Thị Bình Minh |
2005 |
Quản lý chi tiêu công 2000–2010 |
Lý luận chung về chi tiêu công, chưa đi sâu vào dự án lĩnh vực GDĐH. |
| Sử Đình Thành |
2005 |
Lập ngân sách theo kết quả đầu ra |
Đề xuất mô hình theo đầu ra, chưa giải quyết được rào cản đo lường trong GDĐH. |
| Phùng Văn Hiền |
2007 |
Hoàn thiện QLNN đối với dự án đầu tư NSNN |
Khái quát chung về dự án đầu tư công, chưa khu biệt đặc thù ngành giáo dục. |
| Nguyễn Đức Cường |
2009 |
Hoàn thiện pháp luật quản lý trường ĐH, CĐ |
Tập trung vào thể chế quản trị và tự chủ đại học, ít đề cập quản lý tài chính dự án. |
| Nguyễn Đắc Hưng |
2011 |
Chính sách tín dụng ưu đãi GDĐH |
Tiếp cận từ góc độ nghiệp vụ ngân hàng chính sách, chưa phân tích tổng thể QLNN. |
| Neal McCluskey & Chris Edwards |
2012 |
Higher Education Subsidies (Cato Institute) |
Phân tích ba mô hình trợ cấp công tại Hoa Kỳ và cảnh báo thất thoát ngân sách. |
| Haroon Chowdry |
2012 |
Funding Higher Education: Issues and Implications |
Nghiên cứu chia sẻ chi phí và nợ vay sinh viên tại Anh, đặt nền tảng kinh tế công. |
| Ngân hàng Thế giới (World Bank) |
2012 |
Putting Higher Education to Work in East Asia |
Tổng kết mô hình tín dụng sinh viên Thái Lan và quỹ tài trợ cạnh tranh khu vực Châu Á. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ dưới góc độ kinh tế học tài chính công, quản trị nội bộ nhà trường hoặc pháp luật tự chủ đại học. Luận án đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện việc QLNN đối với cả hai khối dự án đầu tư bằng NSNN trong GDĐH: nhóm dự án xây dựng cơ bản và nhóm dự án phi xây dựng công trình (đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ người học). Đồng thời, tác giả giải quyết mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư công và bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận dịch vụ GDĐH.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên:
- Lý thuyết quản lý nhà nước và quản lý hành chính công về điều tiết, kiểm soát các nguồn lực công;
- Lý thuyết kinh tế chính trị về dịch vụ giáo dục: Xác định GDĐH mang tính chất hàng hóa công không thuần túy, tạo ra các yếu tố ngoại hiện tích cực (positive externalities) cho nền kinh tế, từ đó khẳng định tính tất yếu của đầu tư nhà nước kết hợp với xu hướng chia sẻ chi phí (cost-sharing);
- Khung lý thuyết về phân bổ ngân sách: Ba mô hình phân bổ chi tiêu công gồm (1) mô hình theo kết quả đầu ra, (2) mô hình theo khoản mục chi tiêu truyền thống, và (3) mô hình hỗn hợp kết hợp;
- Mô hình đánh giá hiệu quả đầu tư dự án dựa trên mối quan hệ ba yếu tố: Đầu vào (Input - nguồn vốn NSNN, cơ chế chính sách) - Sản phẩm (Output - công trình xây dựng, giáo trình, số lượng người được đào tạo) - Kết quả và tác động (Outcome/Effectiveness).
Phương pháp luận nghiên cứu: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ tài liệu thống kê chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính (như Quyết định 3008/QĐ-BTC), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Chính sách Xã hội và số liệu công khai trên Internet.
- Phương pháp phân tích định tính và định lượng: Kết hợp phân tích định lượng mô tả các chuỗi số liệu tài chính, quy mô trường lớp, số lượng sinh viên với phân tích định tính các quy định pháp luật và cơ chế chính sách.
- Phương pháp tổng hợp và đánh giá: Hệ thống hóa thông tin đa nguồn để rút ra các nhận định về thực trạng phân bổ và quản lý vốn đầu tư.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Tổng hợp ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, nhà khoa học về công tác QLNN đối với các dự án NSNN.
- Phương pháp quy nạp: Do các công trình hàn lâm về quản lý dự án NSNN trong giáo dục còn hạn chế, tác giả sử dụng cách tiếp cận quy nạp từ các bài viết, kỷ yếu hội thảo, văn bản thực tiễn và mô hình quốc tế để khái quát thành các luận cứ lý luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thống kê giai đoạn 2000–2012 từ các cơ quan quản lý nhà nước tại Việt Nam; dữ liệu đối sánh quốc tế từ cơ sở dữ liệu của OECD (Education at a Glance), Eurostat và Ngân hàng Thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học và sau đại học
Chương 1 tập trung làm rõ bản chất kinh tế chính trị và các hình thức đầu tư NSNN cho GDĐH. Tác giả khẳng định GDĐH mang lại lợi ích kép: vừa gia tăng thu nhập cho cá nhân người học, vừa tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, việc tài trợ công không thể bị xóa bỏ mà chuyển đổi phương thức sang chia sẻ chi phí. Theo nghiên cứu của OECD, tại đa số các nước phát triển, chi thường xuyên chiếm bình quân 91,2% tổng chi cho giáo dục, trong khi chi đầu tư cơ bản chỉ chiếm 8,8% (năm 2009); tỷ lệ này tại Indonesia là 72,9% và 27,1%.
Luận án phân tích 4 mô hình tài chính GDĐH theo phân loại của Rainald Borck và Martin Wimbersky:
- Trợ cấp theo phương thức truyền thống (NSNN cấp trực tiếp cho các trường);
- Cho vay tín dụng ưu đãi thông thường;
- Cho vay và thu hồi nợ linh hoạt dựa trên thu nhập sau khi tốt nghiệp (income-contingent loans);
- Đóng góp qua sắc thuế thu nhập đặc thù của người có bằng đại học (graduate tax).
Bên cạnh đó, tác giả phân tích cơ chế QLNN đối với hai nhánh đầu tư: đầu tư cho thể chế giáo dục (xây dựng cơ sở vật chất, tài trợ nghiên cứu khoa học, xây dựng chương trình) và đầu tư hỗ trợ trực tiếp người học (tín dụng, học bổng, miễn giảm học phí). Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, luận án chỉ ra bài học quản lý dự án từ Áo (cơ chế phân bổ ngân sách 80/20 theo thỏa thuận hiệu quả), Hà Lan (chính sách chia sẻ chi phí gắn với gói trợ cấp sinh viên đa tầng) và Thái Lan (quản trị Quỹ tín dụng sinh viên).
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước cho đào tạo đại học và sau đại học ở Việt Nam giai đoạn 2000-2012
Chương 2 phản ánh thực trạng phát triển hệ thống GDĐH và bức tranh phân bổ, quản lý vốn NSNN. Giai đoạn 2000–2012 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng trường đại học, cao đẳng và quy mô sinh viên trên cả nước.
| Năm |
Tổng chi NSNN cho giáo dục (Tỷ đồng) |
Tỷ trọng chi giáo dục trong tổng chi NSNN (%) |
Tỷ trọng chi ngân sách trung ương (%) |
Tỷ trọng chi ngân sách địa phương (%) |
| 2008 |
79.520 |
20,0 |
17,2 |
82,8 |
| 2009 |
93.680 |
20,0 |
16,5 |
83,5 |
| 2010 |
108.700 |
20,0 |
16,8 |
83,2 |
| 2011 |
129.800 |
20,1 |
15,9 |
84,1 |
| 2012 |
151.700 |
20,0 |
15,3 |
84,7 |
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu dự toán NSNN và Bảng 2.1, 2.2 của luận án)
Về quản lý dự án đầu tư trực tiếp cho các cơ sở GDĐH:
- Dự án đầu tư xây dựng cơ bản: Quản lý theo quy định chung của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP và Nghị định số 83/2009/NĐ-CP. Công tác QLNN bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy hoạch mạng lưới trường mang tính hình thức, lập quy hoạch chỉ để hoàn thiện thủ tục xin cấp vốn; định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chuẩn thiết kế lạc hậu, không tương thích với trang thiết bị công nghệ hiện đại; công tác thẩm định dự toán yếu; tỷ lệ áp dụng đấu thầu rộng rãi thấp, dẫn đến chậm tiến độ giải ngân và đội vốn.
- Dự án sự nghiệp khoa học công nghệ: Kinh phí bố trí nhỏ giọt, thủ tục thanh quyết toán phức tạp, gắn nặng với chứng từ hành chính hơn là nghiệm thu chất lượng sản phẩm đầu ra.
- Dự án đào tạo nguồn nhân lực: Triển khai các đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ nhưng khâu tuyển chọn, theo dõi cam kết phục vụ và thu hồi kinh phí khi vi phạm hợp đồng còn nhiều lỗ hổng.
- Dự án ODA: Các dự án quy mô lớn như Dự án GDĐH II, Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) chịu sự quản lý của nhiều bộ (Giáo dục và Đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính) dẫn đến thủ tục giải ngân kéo dài, thiếu sự gắn kết với nguồn vốn đối ứng trong nước.
Về quản lý các dự án hỗ trợ người học:
- Tín dụng sinh viên theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội: Đạt quy mô hỗ trợ hàng triệu lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; tuy nhiên, cơ chế kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay và công tác phối hợp giữa nhà trường, ngân hàng và chính quyền địa phương trong việc theo dõi, thu hồi nợ sau khi sinh viên tốt nghiệp còn lỏng lẻo.
- Các dự án học bổng và miễn giảm học phí: Chính sách học bổng khuyến khích học tập, học bổng chính sách, trợ cấp xã hội và miễn giảm học phí còn bộc lộ bất cập. Mức thu học phí bị khống chế ở mức thấp trong thời gian dài khiến nguồn thu của các trường không đủ bù đắp chi phí đào tạo, tạo gánh nặng lớn cho NSNN, trong khi phân bổ hỗ trợ chưa tập trung đúng vào nhóm yếu thế.
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra: Mang tính sự vụ, tập trung chủ yếu vào tính hợp lệ của hóa đơn, chứng từ sau khi dự án đã hoàn thành, thiếu các công cụ kiểm toán hiệu quả hoạt động và đánh giá tác động dài hạn của dự án.
Chương 3: Đổi mới quản lý nhà nước các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học - sau đại học giai đoạn đến năm 2020
Chương 3 xây dựng các giải pháp đổi mới toàn diện công tác QLNN đối với các dự án NSNN trong GDĐH:
- Đổi mới thể chế và quy hoạch: Rà soát, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật đặc thù cho các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật, phòng thí nghiệm chuyên ngành của cơ sở GDĐH; gắn kế hoạch cấp vốn đầu tư XDCB với quy hoạch mạng lưới các trường công lập đến năm 2020.
- Đổi mới phương thức phân bổ ngân sách: Chuyển dịch từ cơ chế cấp phát bình quân, theo khoản mục chi tiêu hành chính sang áp dụng mô hình phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra (performance-based funding). Nhà nước đặt hàng và giao nhiệm vụ đào tạo gắn với các tiêu chí đo lường chất lượng được kiểm định.
- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ sinh viên:
- Tái cấu trúc chương trình tín dụng sinh viên: mở rộng đối tượng vay, áp dụng cơ chế trả nợ linh hoạt gắn với mã số thuế và thu nhập sau khi tốt nghiệp; tăng cường liên thông dữ liệu giữa Ngân hàng Chính sách Xã hội, cơ sở đào tạo và cơ quan thuế.
- Định vị lại chính sách học bổng và trợ cấp: tách bạch rõ ràng giữa học bổng khuyến khích tài năng do trường cấp và trợ cấp xã hội do ngân sách nhà nước chi trả trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng.
- Đổi mới cơ chế học phí và trao quyền tự chủ: Điều chỉnh khung học phí theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ đào tạo đi đôi với việc nâng cao trách nhiệm giải trình và minh bạch tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập.
- Nâng cao hiệu quả quản lý dự án ODA và KHCN: Tập trung vốn ODA cho các trường đại học trọng điểm; đổi mới cơ chế quản lý đề tài KHCN theo nguyên tắc cạnh tranh công khai, nghiệm thu theo kết quả ứng dụng thực tiễn.
- Tăng cường thanh tra, kiểm soát: Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá dự án chuyên trách; kết hợp kiểm tra tính hợp pháp tài chính với kiểm toán hiệu quả dự án đầu tư công.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học về QLNN đối với các dự án đầu tư từ NSNN trong GDĐH&SĐH, chỉ rõ các đặc trưng khác biệt so với các dự án đầu tư công thông thường.
- Phân tích bản chất kinh tế chính trị của tài chính GDĐH, khẳng định tính tất yếu của việc chuyển đổi phương thức phân bổ ngân sách từ hình thức bao cấp khoản mục sang mô hình phân bổ dựa trên kết quả đầu ra và chia sẻ chi phí.
- Luận giải nguyên lý công bằng xã hội trong cung cấp dịch vụ công: Chứng minh chính sách học phí thấp tràn lan kết hợp với bao cấp đồng loạt tạo ra sự bất bình đẳng vô hình, nơi người có điều kiện kinh tế nhận được nhiều lợi ích hơn nhóm yếu thế. Luận án đặt nền tảng lý luận cho việc chuyển dịch hỗ trợ từ thể chế sang hỗ trợ trực tiếp người học.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát toàn diện hệ thống dữ liệu thực trạng giai đoạn 2000–2012, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ, đội vốn trong các dự án XDCB trường học và sự kém hiệu quả của các dự án phi xây dựng công trình.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020 gồm: Hoàn thiện quy chuẩn định mức chuyên ngành; tái cơ cấu chương trình tín dụng sinh viên qua cơ chế thu hồi nợ theo thu nhập; điều chỉnh khung giá học phí gắn liền với kiểm định chất lượng; xây dựng cơ chế giám sát, thanh tra dự án theo kết quả đầu ra.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tập trung khảo sát phạm vi các cơ sở giáo dục đại học công lập và ba cấp độ đào tạo (đại học, thạc sĩ, tiến sĩ), không đi sâu phân tích khu vực đại học ngoài công lập và bậc cao đẳng. Do điều kiện tiếp cận số liệu thống kê quản lý chi tiêu công tại thời điểm nghiên cứu chủ yếu dựa vào các báo cáo hành chính tổng hợp của bộ, ngành và thông tin công khai, luận án chưa triển khai được các khảo sát chọn mẫu xã hội học vi mô trên quy mô rộng đối với sinh viên vay vốn tín dụng và các chủ đầu tư dự án XDCB.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá tác động định lượng dài hạn của chính sách tín dụng ưu đãi đối với khả năng tìm kiếm việc làm và thu nhập thực tế của người học sau khi tốt nghiệp; đồng thời nghiên cứu cơ chế hợp tác công tư (PPP) trong việc huy động vốn xã hội hóa để xây dựng hạ tầng kỹ thuật và ký túc xá sinh viên cho các cơ sở giáo dục đại học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý hành chính công, Quản lý kinh tế, Quản lý giáo dục và Tài chính công: Cung cấp khung lý thuyết về phân loại dự án đầu tư công trong giáo dục và phương pháp phân tích chính sách tài chính GDĐH.
- Cán bộ quản lý và chuyên viên tham mưu chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Chính sách Xã hội: Tham khảo các luận cứ thực tiễn để xây dựng quy chuẩn định mức xây dựng trường học, hoàn thiện quy chế quản lý vốn vay sinh viên và đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra.
- Lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học: Cung cấp góc nhìn về quản trị dự án, xây dựng phương án tự chủ tài chính gắn với trách nhiệm giải trình và định giá chi phí dịch vụ đào tạo theo học phí.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia các dự án đầu tư từ NSNN trong GDĐH thành những nhóm cơ bản nào?
Văn bản phân chia thành hai nhóm lớn: (1) Nhóm dự án đầu tư trực tiếp cho các thể chế GDĐH (bao gồm dự án đầu tư xây dựng cơ bản hạ tầng cơ sở, dự án đầu tư cho sự nghiệp khoa học công nghệ, các chương trình phát triển nguồn nhân lực giảng viên và các dự án ODA); (2) Nhóm dự án đầu tư hỗ trợ trực tiếp người học (bao gồm dự án tín dụng cho vay ưu đãi sinh viên qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, các dự án học bổng khuyến khích học tập, học bổng chính sách, trợ cấp xã hội và chính sách miễn giảm học phí).
2. Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại các trường đại học giai đoạn 2000–2012 là gì?
Theo văn bản, các điểm nghẽn chính gồm: Cơ chế pháp lý áp dụng chung của ngành xây dựng (Nghị định 12/2009/NĐ-CP, Nghị định 83/2009/NĐ-CP) thường xuyên thay đổi và thiếu quy chuẩn riêng cho ngành giáo dục; công tác quy hoạch chưa được coi trọng, lập quy hoạch chỉ để đủ thủ tục xin vốn; hệ thống định mức, tiêu chuẩn thiết kế dự toán lạc hậu, không tương thích với thiết bị công nghệ mới; công tác thẩm định phê duyệt chất lượng chưa cao và tỷ lệ đấu thầu rộng rãi còn hạn chế dẫn đến kéo dài tiến độ và đội vốn.
3. Tại sao tác giả cho rằng chính sách học phí thấp và trợ cấp bao cấp đồng loạt có thể dẫn đến sự thiếu bình đẳng xã hội?
Dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả chỉ ra rằng khi nhà nước duy trì mức học phí thấp cho toàn bộ hệ thống đại học công lập, chi phí đào tạo thực tế vẫn được bù đắp bằng NSNN (tiền thuế của toàn dân). Tuy nhiên, những người trúng tuyển đại học thường có xuất phát điểm điều kiện học tập tốt hơn, trong đó tỷ lệ con em các gia đình có điều kiện kinh tế nhận được sự hỗ trợ này cao hơn. Do đó, việc duy trì bao cấp học phí bình quân vô tình phân bổ nguồn lực công cho nhóm không thuộc diện khó khăn, làm giảm nguồn lực trực tiếp dành cho người nghèo và đối tượng chính sách.
4. Mô hình phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra được luận án đề xuất áp dụng như thế nào?
Mô hình phân bổ theo kết quả đầu ra gắn định mức cấp phát vốn NSNN với các chỉ số mục tiêu cụ thể: số lượng sinh viên tốt nghiệp đạt chuẩn kiểm định chất lượng, tỷ lệ có việc làm, số lượng công trình nghiên cứu khoa học được công bố và các dự án ứng dụng thực tế. Cơ sở giáo dục đại học phải ký kết thỏa thuận hiệu quả cam kết trách nhiệm và chỉ được phân bổ ngân sách khi đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng đã cam kết.
5. Luận án đúc rút được kinh nghiệm gì từ mô hình phân bổ ngân sách giáo dục đại học của nước Áo?
Luận án chỉ ra Áo áp dụng cơ chế phân bổ ngân sách theo tỷ lệ 80/20. Trong đó, 80% ngân sách được phân bổ cố định cho các cơ sở giáo dục dựa trên các cam kết và thỏa thuận hiệu quả đã ký kết trước giữa cơ quan quản lý nhà nước và nhà trường; 20% ngân sách còn lại được phân bổ cạnh tranh dựa trên một hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả thực tế cụ thể.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phùng Văn Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước trong giáo dục đại học và sau đại học tại Việt Nam giai đoạn 2000–2012. Tác giả đã phân định rõ hai mảng quản lý giữa dự án đầu tư xây dựng cơ bản và các dự án phi xây dựng, vạch rõ những bất cập trong phân bổ ngân sách, công tác quản lý đấu thầu và chính sách trợ cấp sinh viên. Trên cơ sở đối sánh kinh nghiệm quốc tế, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới đồng bộ đến năm 2020 nhằm chuyển dịch sang mô hình phân bổ vốn theo kết quả đầu ra, mở rộng quyền tự chủ gắn liền với trách nhiệm giải trình và bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đại học.