Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước dự án đầu tư bằng ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học và sau đại học. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước cho đào tạo đại học và sau đại học ở Việt Nam giai đoạn 2000-2012. Chương 3: Đổi mới quản lý nhà nước các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học - sau đại học giai đoạn sau 2012 đến 2020. 20 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài luận án Giáo dục đại học được quy định trong Luật GDĐH [62], bao gồm cả bốn cấp trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Đây là hoạt động rất đặc biệt tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và ổn định an ninh - chính trị của quốc gia. NSNN luôn dành sự ưu tiên cho giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng. Giai đoạn từ 1998 - 2010 (12 năm), Nhà nước tăng dần đầu tư cho GD-ĐT từ mức hơn 13% lên 20% tổng chi NSNN.
Với tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục như trên, Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ chi cho giáo dục cao nhất thế giới. Chi phí cho GDĐH cũng đã và đang có nhiều thay đổi. Đầu tư công hay chi phí nhà nước dành cho GDĐH ở Việt Nam cũng được tiếp cận dưới các hình thức: - Đầu tư cho các cơ sở GDĐH; - Đầu tư cho sinh viên. Đầu tư cho các cơ sở GDĐH thông qua các hình thức: - Đầu tư các dự án thuộc cơ sở hạ tầng; - Đầu tư thông qua các dự án nghiên cứu (đề tài nghiên cứu); - Đầu tư thông qua các chương trình về giáo trình, chương trình thuộc các ngành của GDĐH (cũng là một dạng của dự án đầu tư); - Đầu tư thông qua các chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các cơ sở GDĐH - các chương trình đào tạo sau đại học (cũng là dự án đầu tư không thuộc nhóm đầu tư xây dựng công trình); - Khác.
21 Tùy theo từng giai đoạn phát triển mà ngành giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng có những dự án, chương trình khác nhau. Ví dụ, một số loại dự án thuộc GDĐH có tên: Dự án đào tạo Kỹ sư chất lượng cao; Dự án GDĐH II;Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM). Các loại dự án thuộc lĩnh vực GDĐH có thể có nguồn vốn NSNN hay ODA. Theo quy định vốn ODA cũng là vốn ngân sách.
Đầu tư cho sinh viên được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án: - Dự án tín dụng cho sinh viên vay với lãi suất thấp; - Học bổng cho sinh viên; - Miễn, giảm học phí cho sinh viên; - Khác. Nghiên cứu QLNN các loại hình đầu tư trên ở Việt Nam hiện nay còn khá khiêm tốn, thiếu trực tiếp vào các loại hình đó. Một số dự án thuộc lĩnh vực đầu tư bằng NSNN cho phát triển hạ tầng các cơ sở thuộc hệ thống GDĐH như: đầu tư xây dựng các trường; các viện nghiên cứu thuộc trường hay các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư thông thường chịu sự quản lý theo quy định chung về quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình, không có một văn bản pháp luật riêng cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, công trình cho từng lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực giáo dục. Nghiên cứu QLNN các dự án đầu tư bằng NSNN cho GDĐH cũng gắn liền với hoạt động quản lý chi tiêu công; quản lý các dự án đầu tư bằng NSNN nói chung.
Do đó cũng có thể tham khảo cách tiếp cận nghiên cứu của một số công trình sau: 1. Nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010, đề tài khoa học B2002-22-27 của Dương Thị Bình Minh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005). Tác giả đã đề cập tới các vấn đề lý luận về quản lý chi tiêu công 22 và đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công của Việt Nam phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2000 - 2010. Tác giả không đi sâu vào lĩnh vực chi tiêu công cụ thể.
Tuy nhiên cũng cho những ý tưởng có thể tham khảo về quản lý chi tiêu công và vận dụng cho chi tiêu công trong lĩnh vực giáo dục. Vận dụng phương thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi tiêu công ở Việt Nam, đề tài khoa học B2003-22-44 của Sử Đình Thành, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005). Tác giả nhấn mạnh đến hiệu quả của các dự án đầu tư từ NSNN và đề xuất đánh giá, nâng cao hiệu lực QLNN đối với chi NSNN theo kết quả đầu ra. Đây là cách tiếp cận mới được nhiều nước áp dụng.
Tuy nhiên, thách thức nhất của mô hình quản lý này là xác định cụ thể (đo lường được) kết quả đầu ra. Các dự án đầu tư xây dựng công trình, sản xuất kinh doanh có thể dễ áp dụng mô hình này, nhưng đối với các dự án đầu tư trên lĩnh vực cung cấp dịch vụ công như y tế, giáo dục luôn là thách thức. Quản lý chi ngân sách nhà nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế toàn cầu, Luận văn thạc sĩ kinh tế (2011). Đề tài nghiên cứu đã nêu ra lý thuyết, cơ sở khoa học cũng như thực trạng về công tác quản lý chi NSNN ở Việt Nam đồng thời kết hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Đóng góp của đề tài là đã nêu bật được những nguyên nhân còn tồn tại trong công tác quản lý chi NSNN theo nhiều nội dung chi tiết, từ khâu phân cấp quản lý, lập dự toán chi cho đến các khâu triển khai chi NSNN. Trên cơ sở đó có thể tham khảo cho một số dự án thuộc lĩnh vực giáo dục. Tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, Luận văn thạc sĩ hành chính công, của Phùng Văn Hiền, 2007. Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống cơ sở lý luận về dự án đầu tư, qua phân tích, đánh giá thực trạng dự án đầu tư, xu thế vận động, phát triển của đất nước trong thời gian tới, đề xuất những luận 23 cứ khoa học làm cơ sở đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với các dự án đầu tư từ NSNN phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước.
Tuy không đề cập cụ thể đến các dự án đầu tư cho GDĐH, nhưng có thể tham khảo để nhận xét chung về các dự án. Nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo, Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Trọng Trung, 2008, được thực hiện với sự hỗ trợ của Vụ Tài chính, Bộ Tài chính. Đề tài nghiên cứu đã nêu bật được sự cần thiết của công tác chi NSNN cho GD&ĐT, nội dung của Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đưa ra thực trạng chi NSNN cho Chương trình này, quy trình duyệt chi, thực hiện và quản lý chi trong giai đoạn 2001 - 2005. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả chi NSNN cho Chương trình mục tiêu quốc gia GD&ĐT.
Trong hệ thống các chương trình mục tiêu quốc gia cho giáo dục, phần dành cho GDĐH hạn chế. Do đó, luận văn chưa đề cập đến dự án đầu tư theo chương trình mục tiêu quốc gia cho GDĐH. Đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo Việt Nam, thực trạng và giải pháp, của Nguyễn Thị Tuyết Mai. Đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc đưa ra thực trạng về công tác đầu tư vào GD&ĐT ở nước ta, những vấn đề còn tồn tại.
Từ đó đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư cho GD&ĐT ở Việt Nam. Tuy nhiên, lĩnh vực GDĐH&SĐH chưa được đề cập đến. Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ. Đề tài hệ thống hóa quá trình phát triển, đặc điểm vận động và quản lý tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam, đưa ra một số kinh nghiệm quản lý tài chính của các trường đại học ở các nước trên thế giới.
Đề tài cũng đưa ra những phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại các trường đại học công lập ở Việt Nam, từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến những tồn tại và hạn chế. Trên cơ sở đó, đề xuất một số 24 giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính nhằm thực hiện những định hướng chiến lược đề ra. Hoàn thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, của Nguyễn Đức Cường, 2009. Trên cơ sở phân tích những vấn đề về lý luận và thực tiễn để luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay.
Một là: Phân tích cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng; đề xuất các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng trên cơ sở đó luận chứng các giải pháp hoàn thiện pháp luật này ở Việt Nam; hai là: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng và thực tiễn thực hiện pháp luật đó trong thời gian qua; ba là: Trên cơ sở những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng; thực tiễn thi hành pháp luật thời gian qua và tham khảo có chọn lọc pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng của một số quốc gia trên thế giới; đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện nội dung, hình thức pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam hiện nay, trong đó tập trung vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý các trường đại học, cao đẳng nhằm bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam và hội nhập quốc tế.