Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với khoáng sản. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 - 2016. Chương 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai thời gian tới. -6- Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KHOÁNG SẢN 1.
Một số nội dung liên quan đến quản lý nhà nƣớc đối với khoáng sản 1. Một số khái niệm liên quan đến quản lý khoáng sản - Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến [16]. - Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật nhà nƣớc để điều chỉnh các hành vi của con ngƣời trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con ngƣời, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [16]. - Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do cơ quan trong hệ thống hành pháp nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến cơ sở thực hiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của Nhân dân [16].
- Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ [22]. - Quản lý nhà nước đối với khoáng sản là hoạt động, tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nƣớc đối với hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động khoáng sản; tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ -7- thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản phục vụ lợi ích chung [27]. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo đƣợc, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải đƣợc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trƣớc mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quản lý nhà nƣớc đối với khoáng sản có vai trò, ý nghĩa trong việc bảo đảm hoạt động khoáng sản phải phù hợp với chính sách, chiến lƣợc, quy hoạch khoáng sản; đảm bảo khoáng sản đƣợc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả gắn với bảo vệ môi trƣờng, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tƣ; áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, phù hợp với quy mô, đặc điểm từng mỏ, loại khoáng sản để thu hồi tối đa khoáng sản.
Vai trò quản lý nhà nước đối với khoáng sản 1. Về phương diện kinh tế Khoáng sản là nguyên liệu cho rất nhiều ngành kinh tế nhƣ sản xuất năng lƣợng, vật liệu xây dựng, sản xuất kim loại, các khoáng chất công nghiệp phục vụ công nghiệp và nông nghiệp. Trên thế giới, một số nƣớc và vùng lãnh thổ đã cạn kiệt tài nguyên khoáng sản nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Bỉ,. Một số nƣớc, vùng lãnh thổ nghèo tài nguyên khoáng sản nhƣ Singapore, Hồng Kông, Bangladesh đã phải chi khoản kinh phí rất lớn hàng năm để nhập khẩu khoáng sản.
Trên các diễn đàn quốc tế bên cạnh thuật ngữ an ninh năng lƣợng và an ninh lƣơng thực đã đƣợc sử dụng rộng rãi, thuật ngữ an ninh nguyên liệu khoáng bắt đầu xuất hiện. Các nhà kinh tế học -8- trên thế giới cho rằng tài nguyên khoáng sản có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển nói chung và đặc biệt quan trọng cho các nƣớc đang phát triển. Do đó, các quốc gia cần thực thi những chính sách hợp lý để quản lý tài nguyên khoáng sản. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho rằng các nguồn tài nguyên thiên nhiên là lợi thế xuất phát điểm cho sự nghiệp phát triển của đất nƣớc thông qua việc cung cấp nguyên, nhiên liệu cho các ngành sản xuất.
Thứ nhất, đối với công nghiệp, khoáng sản cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp nhƣ luyện kim, hóa chất, cơ khí,… và là cơ sở vật chất cho những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Đồng thời sự phong phú và đa dạng của các loại khoáng sản đã tạo điều kiện để phát triển một nền công nghiệp có cơ cấu đa dạng. Không những thế, với sự phân bố theo vùng đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc hình thành, phát triển các trung tâm công nghiệp, vùng công nghiệp với trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao. Thứ hai, đối với ngành nông nghiệp, khoáng sản là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất phân bón nhờ đó mà năng suất nông nghiệp không ngừng tăng lên, trình độ sản xuất ngày càng nâng cao.
Thứ ba, đối với ngành giao thông và xây dựng, khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính trong xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, đƣờng xá, cầu, cống,… Thứ tư, đối với thƣơng mại, khoáng sản cung cấp nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn, đem lại nguồn thu ngoại tệ cao, kích thích mở rộng thị trƣờng, thu hút đầu tƣ. Khoáng sản còn là nguồn cung cấp mặt hàng có giá trị kinh tế cao. Nguồn khoáng sản đa dạng, phong phú là điều kiện thuận lợi để khai thác chế biến phục vụ cho sản xuất trong nƣớc, đồng thời xuất khẩu ra nƣớc ngoài thu ngoại tệ. Nhờ đó có thể tích lũy vốn, đầu tƣ, phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc.
-9- Công nghiệp khai thác khoáng sản có sức ảnh hƣởng to lớn đến đời sống kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của ngành khai khoáng không chỉ dựa trên những đóng góp vào sự phát triển kinh tế, mà còn phải xét đến những tác động tiêu cực ảnh hƣởng đến đời sống xã hội. Ở Việt Nam, ngành khai khoáng là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn và cũng là một trong những ngành công nghiệp gây nhiều tác động nhất đến môi trƣờng và xã hội. Về phương diện chính trị Tài nguyên khoáng sản giúp các quốc gia bình ổn, giữ vững trật tự xã hội.
Khai thác khoáng sản đã tạo việc làm cho ngƣời lao động, góp phần nâng cao đời sống của ngƣời dân. Đặc biệt đối với các vùng miền núi, khoáng sản góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng này và làm giảm khoảng cách chênh lệnh giữa các vùng miền trong nƣớc. Hơn nữa, khoáng sản còn tạo cho các quốc gia có một vị trí quan trọng trong giao lƣu quốc tế. Tài nguyên khoáng sản góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia.
Thậm chí trong một số trƣờng hợp tài nguyên khoáng sản còn làm tăng ảnh hƣởng về mặt chính trị của quốc gia này với quốc gia khác. Các quốc gia không có tài nguyên khoáng sản thƣờng phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng nhƣ về chính trị đối với các quốc gia có ƣu thế về tài nguyên khoáng sản. Tác động xã hội của hoạt động khai thác khoáng sản Ngân hàng Thế giới (WB) đã từng tuyên bố rằng: “Công nghiệp khai thác khoáng sản là phương tiện đi đến xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững” [46]. Nhƣ vậy, về lý thuyết, khai thác khoáng sản góp phần làm tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ sở hạ tầng.
Những yếu tố này chính là động lực cho xóa đói, giảm nghèo. Nhƣng, qua rất nhiều nghiên cứu, trong quá trình phát triển ngành khai thác khoáng sản, hoạt động khai - 10 - thác khoáng sản ở Việt Nam hiện nay bên cạnh những tác động tích cực còn có rất nhiều tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội nhƣ: Thứ nhất, việc phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên sẽ làm cho nền kinh tế dễ bị tổn thƣơng hơn trƣớc những biến động của tình hình kinh tế thế giới. Đơn cử nhƣ, xuất khẩu dầu thô đem lại nguồn ngân sách lớn cho quốc gia nhƣng giá dầu thô trên thế giới bất ổn định, điều nay đem lại quan ngại lớn. Thực tế hiện nay, số liệu tăng trƣởng GDP không tính đến các giá trị mất đi mà chỉ tính đến các giá trị nhận đƣợc.
Do đó, số liệu GDP không phản ánh đƣợc trung thực sự đóng góp của ngành khai khoáng đối với nền kinh tế. Thứ hai, về vấn đề việc làm, ngành công nghiệp khai thác khoáng sản chƣa làm đƣợc nhƣ lý thuyết đề ra, thậm chí còn có tác động ngƣợc lại. Các mỏ khoáng sản hiện nay thƣờng nằm ở vùng sâu, vùng xa nơi ngƣời dân chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp. Hoạt động khai khoáng sử dụng chủ yếu tài nguyên đất, rừng, nƣớc mà cuộc sống ngƣời dân lao động lại trực tiếp phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên đó.
Mặt khác, hoạt động này chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên không tái tạo, có nghĩa là, hoạt động này sẽ chấm dứt và công nhân sẽ mất việc làm khi mỏ cạn kiệt. Đó là còn chƣa kể đến sự hạn chế về trình độ và kỹ năng lao động, ngƣời nghèo sẽ ít có cơ hội hƣởng lợi từ hoạt động này. Thứ ba, ngành khai khoáng có tác động rất lớn đến môi trƣờng sống. Bụi, khí độc, nƣớc thải.của ngành khai khoáng đang là thủ phạm trực tiếp khiến cho môi trƣờng sống đang bị suy thoái nghiêm trọng.
Thứ tư, đời sống dân cƣ, an ninh trật tự của khu vực có khoáng sản bị biến động. Bởi, các mỏ khai khoáng thƣờng thu hút nguồn lao động từ nhiều địa phƣơng khác đến, việc nhập cƣ với số lƣợng lớn lao động dẫn đến nhiều hệ lụy. Giá cả thị trƣờng tăng, đời sống văn hóa, truyền thống địa phƣơng bị tác động, tình hình xã hội phức tạp.