phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng Chƣơng 1: Một số vấn đề cơ bản về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn thành phố Huế. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động kinh doanh tại các chợ trên địa bàn thành phố Huế. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC CHỢ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, phân loại chợ Tùy theo lĩnh vực nghiên cứu, có nhiều khái niệm khác nhau về chợ. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “chợ là nơi tụ họp giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)”[24]. Theo Đại từ điển kinh tế thị trƣờng: “chợ là thị trƣờng mua bán đổi chác hàng hóa định kỳ hoặc không định kỳ” [22].
Chợ là một kiểu tổ chức thị trƣờng, tổ chức mua bán, phân phối hàng hóa. Theo Thông tƣ số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thƣơng Mại (nay là Bộ Công Thƣơng) hƣớng dẫn tổ chức và quản lý chợ: “Chợ là mạng lƣới thƣơng nghiệp đƣợc hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”[5] Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ: “Chợ là loại hình kinh doanh thƣơng mại đƣợc hình thành và phát triển mang tính truyền thống, đƣợc tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cƣ". Các định nghĩa có sự khác nhau nhƣng đều xem chợ là không gian diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ, là nơi nhiều ngƣời tụ họp để thoả mãn nhu cầu và mục đích mua bán. Nhƣ vậy, có thể hiểu khái quát về chợ nhƣ sau: Chợ là loại hình kinh doanh thƣơng mại đƣợc hình thành và phát 7 triển mang tính truyền thống, đƣợc tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông ngƣời mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, đƣợc hình thành do yêu cầu của sản xuất, lƣu thông và đời sống tiêu dung xã hội, hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định; là nơi phục vụ trao đổi mua bán, thoả mãn nhu cầu cuộc sống dân sinh của nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, tập trung các hoạt động mua bán của nhiều thành phần kinh tế, dân cƣ trong xã hội.
Theo tiêu chí khác nhau, ta có các cách phân loại chợ khác nhau. Thứ nh t, theo địa giới hành chính. Theo cách phân loại này, có hai loại chợ là chợ đô thị và chợ nông thôn.[25 ] - Chợ đô thị là các loại chợ đƣợc tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ. Ở khu vực này, thu nhập, mức sống và trình độ văn hoá của dân cƣ thƣờng cao hơn ở nông thôn, cho nên các chợ thành phố thƣờng có quy mô lớn và hiện đại hơn.
Văn minh thƣơng mại trong chợ cũng đƣợc chú trọng, cơ sở vật chất thƣờng xuyên đƣợc tăng cƣờng, bổ sung và hoàn chỉnh. Phƣơng tiện phục vụ mua bán, hệ thống phƣơng tiện truyền thông và dịch vụ ở các chợ này thƣờng tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn. - Chợ nông thôn là chợ thƣờng đƣợc tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã. Hình thức trao đổi hàng hóa ở chợ đơn giản với các quầy, sạp có quy mô nhỏ lẻ, manh mún; một số vùng núi, ngƣời dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ.
Ở các chợ nông thôn bản sắc văn hóa, truyền thống đặc trƣng ở mỗi địa phƣơng, của các vùng lãnh thổ khác nhau đƣợc thể hiện rất rõ nét. Thứ hai, theo tính chất mua bán. Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn và bán lẻ. - Chợ bán buôn là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung với khối lƣợng hàng hoá lớn.
Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng 8 hàng hoá đi các nơi. Các chợ này thƣờng là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán lẻ trong và ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu. Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn có bán lẻ nhƣng tỷ trọng nhỏ. - Chợ bán lẻ là những chợ thuộc phạm vi xã, phƣờng (liên xã, liên phƣờng), cụm dân cƣ, hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng.
Thứ ba, theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh. Dựa theo đặc điểm này, có hai loại chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh. - Chợ tổng hợp là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành hàng khác nhau. Trong chợ có nhiều loại mặt hàng nhƣ: đáp ứng toàn bộ các nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.
Ở Việt Nam, hình thức chợ tổng hợp chiếm ƣu thế về số lƣợng. - Chợ chuyên doanh là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng này thƣờng chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặt hàng khác, các loại hàng này có doanh số dƣới 40% tổng doanh thu. Thứ tư, theo số lƣợng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ. Cách phân loại này đƣợc quy định trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP về phát triển và quản lý chợ thì chợ đƣợc chia thành 03 hạng: chợ hạng 1, chợ hạng 2 và chợ hạng 3.[6] - Chợ hạng 1 là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch.
Chợ đƣợc đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thƣơng mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và đƣợc tổ chức họp thƣờng xuyên. Mặt bằng chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ 9 đo lƣờng, dịch vụ kiểm tra chất lƣợng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác. - Chợ hạng 2 là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; đƣợc đặt ở trung tâm giao lƣu kinh tế của khu vực và đƣợc tổ chức họp thƣờng xuyên hay không thƣờng xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lƣờng, vệ sinh công cộng. - Chợ hạng 3 là chợ có dƣới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chƣa đƣợc đầu tƣ xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố.
Chợ chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phƣờng và địa bàn phụ cận. Thứ năm, theo tính chất và quy mô xây dựng. Theo tiêu chí này, chợ đƣợc chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và chợ tạm. - Chợ kiên cố là chợ đƣợc xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của một công trình kiến trúc, có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm).
Chợ kiên cố thƣờng là chợ hạng 1 có diện tích đất hơn 10.000 m2 và chợ hạng 2 có diện tích đất từ 6. Các chợ kiên cố lớn thƣờng nằm ở các tỉnh, thành phố lớn, các huyện lỵ, trị trấn và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và là trung tâm mua bán của cả vùng rộng lớn. - Chợ bán kiên cố là chợ chƣa đƣợc xây dựng hoàn chỉnh. Bên cạnh những hạng mục xây dựng kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục xây dựng tạm nhƣ lán, mái che, quầy bán hàng., độ bền sử dụng không cao (dƣới 10 năm) và thiếu tiện nghi.
Chợ bán kiên cố thƣờng là chợ hạng 3, có diện tích đất 3000-5000 m2. Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa xôi, chợ liên xã, liên làng, các khu vực ngoài thành phố lớn. - Chợ tạm là chợ mà những quầy, sạp bán hàng là những lều quán đƣợc làm có tính chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ 10 nhanh chóng và ít tốn kém. Loại chợ này thƣờng hay tồn tại ở các vùng quê, các xã, các thôn, có chợ đƣợc dựng lên để phục vụ trong một thời gian nhất định (nhƣ tết, lễ hội.
Khái niệm hoạt động kinh doanh tại chợ Có rất nhiều các chuyên gia kinh tế đƣa ra những định nghĩa khác nhau về kinh doanh. Theo stephenson: kinh doanh là việc sản xuất hoặc mua bán hàng hóa thƣờng xuyên, để thực hiện nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận có đƣợc thông qua sự thỏa mãn mong muốn của con ngƣời. Theo Lewis Henry: “kinh doanh là hoạt động của con ngƣời hƣớng tới sản xuất hoặc có đƣợc sự giàu có thông qua việc mua và bán hàng hóa.” Ở một khía cạnh khác, Dicksee lại có cách nhìn nhận về kinh doanh đề cập đến một hình thức hoạt động đƣợc thực hiện vì mục tiêu kiếm lợi nhuận, vì lợi ích của những ngƣời nhân danh hoạt động kinh doanh thực hiện. Tóm lại, kinh doanh là phƣơng thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phƣơng pháp, hình thức và phƣơng tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tƣ, sản xuất, vận tải, thƣơng mại, dịch vụ.) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất [10] Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014 ban hành ngày ngày 26 tháng 11 năm 2014 đã quy định: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi.