Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở KHU CÔNG NGHỆ CAO 1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan của học giả nước ngoài Ở nhóm này, luận án giới thiệu, phân tích những vấn đề được đề cập giải quyết trong các công trình nghiên cứu về FDI nói chung và quản lý nhà nước đối với FDI vào KCNC nói riêng của một số học giả trên thế giới như Đức, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan… 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung Trong tác phẩm Toàn tập, tập 27, V.Lênin cho rằng: Hoạt động FDI là hoạt động “xuất khẩu tư bản” từ các nước tư bản phát triển sang các nước thuộc địa nhằm duy trì sự áp bức bóc lột và khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ [88]. Trong cuốn “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” Lê-nin khẳng định: “Việc xuất khẩu tư bản ảnh hưởng đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và thúc đẩy nhanh sự phát triển đó trong những nước đã được đầu tư. Cho nên nếu trên một mức độ nào đó việc xuất khẩu có thể gây ra một sự ngưng trệ trong sự phát triển của các nước xuất khẩu tư bản. Theo Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), FDI được hiểu là “số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài, trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư.
Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường” [108]. Khái niệm này đề cập đến hai yếu tố là tính lâu dài của hoạt động đầu tư và động cơ đầu tư. 14 Trên cơ sở tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của FDI, các nhà khoa học trên thế giới đã tích cực nghiên cứu vai trò, tác động của FDI đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Nghiên cứu "How Does Foreign Direct Investment Affect Economic Growth?" của Borensztein et al (1995 - 1998) sử dụng số liệu của 69 nước đang phát triển giai đoạn 1970 - 1989 để hồi quy [94].
Kết quả cho thấy FDI ròng chỉ có ảnh hưởng nhẹ đến tăng trưởng, nhưng khi sử dụng số nhân của FDI với trình độ của lực lượng lao động làm biến độc lập thì biến này có hệ số dương và ý nghĩa thống kê. Tác giả kết luận “FDI chỉ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế khi nước nhận đầu tư có lực lượng lao động đạt đến trình độ nhất định. Dưới mức đó, FDI hầu như không có tác động đến tăng trưởng kinh tế”. Điều này cũng hoàn toàn đồng nhất với nghiên cứu của Carkovic, M&R.Levine trong “Does Foreign Direct Investment Accelerate Economic Growth? in Does Foreign Direct Investment Promote Development?”.
Carkovic và Levine đã chỉ ra rằng không một tác động cụ thể nào của FDI được thể hiện rõ trong thời gian dài, ví dụ như khảo sát trong giai đoạn 1960 - 1995 và chỉ có một số tác động nổi bật nhưng mang tính nhất thời trong khoảng thời gian 5 năm liên tiếp [95]. Không có một tài liệu cụ thể nào chỉ ra được những biến số phù hợp hàm chứa tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, Klein và các cộng sự lập luận rằng, trong ngắn hạn, nguồn vốn FDI là chìa khóa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển [116]. Các nhà nghiên cứu cho rằng FDI là cách thức quan trọng nhất để chuyển giao tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý từ các nước có trình độ phát triển cao hơn sang các nước có trình độ phát triển thấp hơn trong khi những điều này cấu thành trọng yếu cho tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua việc tăng năng suất lao động tại các quốc gia đang phát triển.
Nghiên cứu tác động của FDI đến phân phối và việc làm, luận án tiến sĩ của Faramarz AKARAM, Foreign Direct Investment in Developing Countries: Impact on Distribution and Employment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển: Tác động vào phân phối và việc làm, được thực hiện tại Khoa Kinh tế 15 và Khoa học xã hội tại Đại học Fribourg, Switzerland chứng minh rằng, lý thuyết tân cổ điển truyền thống không cho phép hiểu được những tác động của đầu tư nước ngoài tới nước chủ nhà trong bối cảnh toàn cầu hiện đại đã và đang định hình kể từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Nguyên nhân chính là thị trường, dù là thị trường cạnh tranh, cũng không thể tự điều chỉnh [103]. Do đó, lý thuyết tân cổ điển cho thấy sự thiếu sót để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội cơ bản. Kinh tế học hiện đại về cơ bản là lý luận về kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.
Nghiên cứu của Slaughter đánh giá tác động của các công ty đa quốc gia đến cả cầu và cung lao động có kỹ năng của thị trường lao động nước nhận đầu tư [122]. Đánh giá vai trò của FDI đối với chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp, trường hợp ngành công nghiệp ô tô ở Trung Âu và Đông Âu, nghiên cứu “Foreign Direct Investment and Restructuring in the Automotive Industry in Central and East Europe” của Radosevic. A đã chỉ ra những yếu tố giải thích quy mô và chiều sâu của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp ô tô; hiệu quả kinh tế của việc tái cơ cấu ngành công nghiệp ô tô trong điều kiện ràng buộc về lao động, thương mại và công nghệ. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của chính sách cấp quốc gia và cấp EU trong việc định hình FDI và chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp ô tô ở Trung Âu và Đông Âu [123].
Nghiên cứu của tác giả FU Lifen cũng đã phân tích các tác động của FDI đến sự phát triển cơ cấu ngành công nghiệp của Trung Quốc, cũng như phân tích sự thay đổi cơ cấu ngành công nghiệp giai đoạn 1985 - 2008 ở Trung Quốc [105]. Kết quả cho thấy: FDI có thể thúc đẩy công nghiệp Trung Quốc phát triển và tối ưu hóa trực tiếp sự phát triển đó thông qua một gói các hiệu ứng, chẳng hạn như sự thay đổi của cấu trúc cầu, tích lũy vốn, tiến bộ công nghệ, thay đổi thể chế và phát triển thương mại xuất khẩu. Trong một nghiên cứu của Aizenmen và Noy về mối quan hệ hai chiều giữa FDI và thương mại của hai nhóm nước: Các nước phát triển và các nước đang phát triển đã chỉ ra rằng mối quan hệ hai chiều giữa thương mại và FDI mạnh hơn 16 ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển. Trong bối cảnh nghiên cứu lúc bấy giờ, FDI thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn [91].
Fukao et al đã phân tích các thay đổi gần đây trong hoạt động thương mại của các nước Đông Á và phân tích vai trò của FDI trong những thay đổi đó trong giai đoạn 1988 - 2000 [106]. Nghiên cứu của họ cho thấy trao đổi thương mại giữa các DN cùng ngành của các nước Đông Á đã tăng lên nhanh chóng trong khoảng thời gian nghiên cứu. Đặc biệt là trong trường hợp ngành công nghiệp điện tử nói chung và ngành cơ khí chính xác nói riêng. Họ cũng thấy rằng vốn FDI có tác động tích cực trong trao đổi thương mại trong ngành công nghiệp thiết bị điện.
Cuối cùng, họ kết luận rằng ở Đông Á, FDI đóng vai trò quan trọng đối với sự gia tăng thương mại giữa các DN ở các quốc gia. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Công trình nghiên cứu "Đầu tư trực tiếp nước ngoài và công nghiệp hóa ở Malaixia, Xingapo, Đài Loan và Thái Lan" của OECD, các tác giả Linda Y. Lim và Pang E. Fong đã đề cập một số chính sách thu hút FDI của Malaixia, Xingapo, Đài Loan và Thái Lan [117].
Trong bài nghiên cứu "Tác động của chính sách tự do hóa thương mại và đầu tư đến nền kinh tế Malaixia" trong cuốn "Các nền kinh tế phát triển XXXII - 4", tác giả Yumiko Okamoto cũng đã có đề cập đến một số chính sách về chuyển giao công nghệ, liên kết các ngành kinh tế. Công trình nghiên cứu“Malaixia - Tổng quan về khung pháp lý trong đầu tư trực tiếp nước ngoài” của tác giả Arumugam Rajenthran đã phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan đến FDI ở Malayxia về lập pháp, đất đai, lao động, môi trường; một số chính sách khuyến khích về thuế và phi tài chính; các quyền sở hữu trí tuệ; quản lý và giải quyết các tranh chấp. Ở công trình nghiên cứu này, tác giả chủ yếu phân tích trên góc độ vĩ mô, gắn với bối cảnh cụ thể để phân tích cội nguồn xuất phát của những chủ trương, chính sách cũng như mục tiêu của những quy định trong chính sách thu hút FDI của Malayxia. Đồng thời, công trình nghiên cứu cũng nêu lên một số thách thức của Malayxia trong vấn đề 17 xử lý các mối quan hệ với các nước láng giềng ASEAN liên quan đến bản thỏa thuận về thương mại, đến các khía cạnh đầu tư (TRIM) và bản thỏa thuận về các vấn đề thương mại trong quyền sở hữu trí tuệ (TRIP).
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này cũng chưa nghiên cứu đầy đủ nội dung các chính sách thu hút FDI mà Malayxia đã áp dụng [92]. Trong bài phân tích của Institute of International economics “FDI in Developing Countries and Economies in Transition: Opportunities, Dangers, and New Changes”, (Đầu tư nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới). Tác giả khuyến nghị, để phát huy vai trò tích cực của FDI, nước nhận đầu tư không những cần có chính sách tăng cường thu hút FDI, mà còn phải có chính sách chủ động định hướng FDI theo hướng hiệu quả [111]. Báo cáo “Vietnam Economic report on Industrilization and Industry Policy” vào tháng 10 năm 2005 do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố đã có những phân tích sâu sắc cùng với những số liệu được thu thập chính xác về hoạt động công nghiệp hóa cũng như các chính sách công nghiệp đối với các DN nói chung và các DN FDI nói riêng hoạt động tại Việt Nam.