phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục mầm non tƣ thục Chƣơng 3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục mầm non tƣ thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục mầm non tƣ thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến luận án Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 9 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu về giáo dục mầm non tƣ thục Giáo dục là một lĩnh vực đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới quan tâm bởi tầm quan trọng và sự ảnh hƣởng của nó đến quá trình phát triển KT-XH của quốc gia, GDMNTT là loại hình trƣờng mầm non đƣợc thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động bởi một tổ chức hoặc cá nhân và nguồn vốn đầu tƣ cho hoạt động của cơ sở này từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nƣớc.
GDMNTT xuất hiện nhiều ở các nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Có thể điểm qua các nghiên cứu về GDMNTT nhƣ sau: 1. Các công trình trên thế giới Ở một số nƣớc, cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập đã có từ lâu và đang trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển. Các nƣớc này đã ban hành những bộ luật giáo dục ngoài công lập và nhờ đó cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập phát triển một cách có hiệu quả.
Ở Pháp các điều luật này đã có từ thế kỷ thứ XIX, ở Hàn Quốc có Luật giáo dục tư thục từ năm 1963, Thái Lan có Điều luật các trường tư thục từ năm 1982, Trung Quốc có Luật phát triển giáo dục ngoài công lập từ năm 2002. Trong cuốn Nền giáo dục cho thế kỷ XXI - Những triển vọng của châu Á - Thái Bình Dương, ông Raja Roy Singh - nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng [61] đã khẳng định: Không một hệ thống giáo dục nào có thể vƣơn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó. Tác giả đề cập đến các vấn đề về hệ thống nhà trƣờng, xu hƣớng phát triển giáo dục, phƣơng pháp giáo dục và mô hình nhân cách, trong đó nhấn mạnh con ngƣời là trung tâm của giáo dục. Ý kiến trên có giá trị đặc biệt cho GD nhiều nƣớc, cụ thể, ngƣời thầy không chỉ là ngƣời truyền đạt tri thức, mà là ngƣời biết truyền đạo, biết thụ nghiệp và biết giải đáp những băn khoăn, thắc mắc cho thế hệ trẻ.
Trong đó, tác giả cũng đề cập đến giáo dục ngoài công lập và khẳng định phải có sự tồn tại của giáo dục ngoài công lập 10 song song với giáo dục của nhà nƣớc. Đây là nền tảng cho sự phát triển giáo dục của thế kỷ mới. Tài liệu Global Education Monitoring Report Summary 2017/8: Accountability in education: Meeting our commitments (Tóm tắt Báo cáo Giám sát Giáo dục Toàn cầu 2017/8: Trách nhiệm trong giáo dục: Đáp ứng các cam kết của chúng tôi) [105] có nội dung đề cập đến giáo dục tƣ thục và mầm non tƣ thục. Nhóm tác giả nghiên cứu cho rằng: Giáo dục tƣ thục đã phát triển rộng rãi.
Số lƣợng quốc gia có trên 20% học sinh nhập học tƣ thục tăng lên trong giai đoạn 2005-2015. Ở một số quốc gia thuộc Tiểu vùng Sahara Châu Phi và Nam Á, nhiều trƣờng tƣ thục không đƣợc kiểm soát, đặc biệt là những trƣờng thu phí thấp phục vụ các nhóm dân cƣ nghèo, khi tốc độ tăng dân số ở những khu vực này vƣợt quá khả năng đáp ứng của chính phủ. Một số nhà trƣờng đến nay vẫn chƣa đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền nhằm tránh phải tuân thủ các quy định khắt khe. Việc kiểm soát và quản lý hệ thống trƣờng tƣ thục nhằm cải thiện sự công bằng đòi hỏi các bên phải chung tay hành động.
Môi trƣờng quản lý nhà nƣớc yếu kém là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng khi các chuỗi cung ứng giáo dục tƣ thục quy mô lớn nhanh chóng lan rộng. Công tác thanh tra ở Kê-ni-a và U-gan-đa phát hiện ra những GV chƣa đạt chuẩn, thiếu thốn cơ sở vật chất, trang thiết bị và giảng dạy chƣơng trình giáo dục không có giấy phép của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, đồng thời các tòa án đã kiên quyết yêu cầu Bộ giáo dục phải có những động thái đóng cửa một số nhà trƣờng. Access to the system for better educational outcomes (Tiếp cận hệ thống cho kết quả giáo dục tốt hơn - SABER) [116] của Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 2010-2015 chỉ ra rằng chỉ có 14 trong 34 quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình xây dựng tiêu chuẩn GDMN và hệ thống giám sát mức độ tuân thủ. Liên quan đến đảm bảo chất lƣợng, các quốc gia thƣờng ƣa chuộng những đặc trƣng dễ đo lƣờng và dễ quan sát, chẳng hạn nhƣ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và tỷ lệ HS/GV.
Cho dù nhƣ vậy, các quốc gia thƣờng phải rất vất vả để có thể giám sát sự tuân thủ một cách hệ thống. 11 Một số hệ thống giáo dục khác cố gắng đánh giá các khía cạnh tinh vi hơn trong thực tiễn sƣ phạm. Ở Chi-lê, các nhà giáo dục ở tất cả các trƣờng đô thị đều đƣợc đánh giá 4 năm một lần dựa vào tiêu chuẩn của khung dạy học tốt, một quy trình bao gồm tự đánh giá, dự giờ giảng, đánh giá lẫn nhau và đánh giá hồ sơ. Những GV bị xếp “chƣa đạt” sẽ đƣợc đánh giá lại vào năm sau và sẽ bị cấm đứng lớp nếu không thể hiện sự tiến bộ.
Một số công cụ, chẳng hạn nhƣ thang đo môi trƣờng GDMN, giúp đánh giá chất lƣợng tƣơng tác giữa GV và HS. Đƣợc xây dựng và áp dụng rộng rãi tại Mỹ, thang đo này cũng đã đƣợc hiệu chỉnh để áp dụng tại các quốc gia thu nhập cao khác, bao gồm Đức và I-ta-li-a. Sự đóng góp của cộng đồng, đặc biệt là phụ huynh, là vô cùng quan trọng để đảm bảo chất lƣợng GDMN. Ở Pháp, Quỹ Phân bổ Gia đình Quốc gia tiến hành rà soát định kỳ dựa trên kết quả khảo sát mức độ hài lòng của phụ huynh, và những đại diện phụ huynh đƣợc lựa chọn trong các khảo sát này sẽ tham mƣu cho Ủy ban Giáo dục Mầm non của Đại hội đồng.
Cuốn sách Giáo dục Nhật Bản nhìn từ thế giới [45] đƣợc xuất bản tại Nhật đã đề cập đến đặc trƣng của giảo dục mầm non tại Nhật Bản, mô tả lại hoạt động diễn ra trong các trƣờng mầm non, mẫu giáo Nhật Bản, thời gian học tập, những sinh hoạt cũng nhƣ phƣơng pháp GD trẻ em mầm non ở các trƣờng mầm non của Nhật. Hầu hết các trƣờng mầm non tại Nhật Bản có hai hình thức: trƣờng mẫu giáo và nhà trẻ. Nhà trẻ (yochien) hoạt động dƣới sự giám sát của Bộ Văn hóa, dành cho trẻ em ở độ tuổi từ 3-5 tuổi, nhận trông trẻ khoảng 5 tiếng/ ngày. Trƣờng mẫu giáo (hoikuen) đƣợc thành lập bởi Quỹ Phúc lợi, chủ yếu dành cho trẻ em ở những gia đình có mẹ đang đi làm.
Các dạng trƣờng mầm non này dành cho trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi và nhận trông giữ 8 tiếng/ngày. Ở mọi khía cạnh, hai loại hình tổ chức này có nhiều điểm tƣơng đồng nhƣ cơ sở vật chất, chƣơng trình giảng dạy, phong cách giảng dạy và các hoạt động trong lớp học. Tỷ lệ trẻ em Nhật Bản theo học trƣờng mầm non rất lớn, 40% trẻ em 3 tuổi và 92% trẻ em từ 4-5 tuổi tham dự hoặc trƣờng mẫu giáo, hoặc nhà trẻ. Hiếm ai để con thôi học sau khi đã tham gia những lớp học này.
12 Cả hai loại hình trƣờng học trên đều mất học phí. Các phụ huynh cho rằng nhà trẻ có mức giá phù hợp với thu nhập của họ. Ngoài các khoản thu từ học phí, các tổ chức tiền tiểu học này còn nhận đƣợc trợ cấp từ Chính phủ. Tuy nhiên tác giả chƣa đi sâu phân tích các đặc trƣng của từng loại hình trƣờng những ƣu điểm, hạn chế của từng loại hình trƣờng này.
Amanda Ripley, tác giả của cuốn The smartest kids in the world: And How that got that way (Những đứa trẻ thông minh nhất thế giới: Và làm thế nào để có đƣợc cách đó) [102] đã so sánh mô hình GD trẻ em ở Mỹ và ở Hàn Quốc. Tác giả cho rằng: Hàn Quốc cũng nhƣ ở nhiều nƣớc châu Á khác, có trƣờng công lập và trƣờng tƣ thục. Tuy nhiên, quy mô lớp học ở trƣờng công lập rất lớn – đây là điều cực kỳ không mong muốn đối với phụ huynh Mỹ. Các trƣờng mầm non công lập và cả tƣ thục ở Hàn Quốc đều xác định mục tiêu của GD là giáo viên dẫn dắt lớp học trở thành một cộng đồng, và phát triển các mối quan hệ giữa học sinh với nhau.
Ở Mỹ, Bộ Giáo dục không thực hiện chức năng quản lý trực tiếp và toàn diện đối với toàn hệ thống giáo dục liên bang. Chính quyền các bang, các phòng giáo dục quận và nhà trƣờng có quyền tự chủ rất cao trong quản lý mọi mặt hoạt động của các trƣờng ngoài công lập theo khuôn khổ pháp luật (Luật Liên bang và từng bang). Kinh phí cho giáo dục từ các bang và các phòng giáo dục quận, kinh phí liên bang chỉ một phần nhỏ và chủ yếu dành phục vụ các đối tƣợng khó khăn. Các cơ quan quản lý của bang có trách nhiệm và quyền hạn lớn trong phạm vi, xây dựng kế hoạch chiến lƣợc phát triển giáo dục của bang cho đến phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên, quyết định nội dung chƣơng trình đào tạo của các loại hình giáo dục cả công lập và ngoài công lập.
Những nghiên cứu về chi phí và lợi ích của một số chƣơng trình cụ thể ở Mỹ cho thấy, lợi ích đầu tƣ vào các chƣơng trình chăm sóc giáo dục mầm non ngoài công lập là tích cực. Does the autistic child have a “Theory of mind”?-Cognition (Đứa trẻ tự kỷ có lý thuyết về tâm trí không?