Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở khoa học. Khái niệm doanh nghiệp. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì mức độ đóng góp cho nền kinh tế của doanh nghiệp là khác nhau, nhưng trong công cuộc phát triển kinh tế của mỗi đất nước thì doanh nghiệp giữ vai trò quyết định.
Có quan điểm cho rằng “Doanh nghiệp là chủ thể tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận”. Theo từng giai đoạn lịch sử doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: Cửa hàng bách hóa, nhà máy, xí nghiệp, công ty, hãng… Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mỗi quốc gia trên thế giới có những tiêu chí xác định DNNVV riêng nhưng chủ yếu là dựa vào tiêu chí doanh thu, thu nhập, lao động và vốn đầu tư; một số quốc gia xác định theo tiêu chí thu nhập của doanh nghiệp như Hàn Quốc, một số quốc gia xác định theo tiêu chí doanh thu hoặc thu nhập như Malayxia; một số khác kết hợp cả đồng thời 2 hay cả 3 tiêu chí, như Pháp sử dụng 2 tiêu chí doanh thu và thu nhập, Trung Quốc sử dụng cả 3 tiêu chí để xác định là doanh thu, lao động và tài sản.
Chung quy, tiêu chí xác định DNNVV chủ yếu dựa vào 2 tiêu chí lao động và doanh thu/ năm ở một mức độ nào đó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia để quy định. Có nhiều khái niệm về DNNVV ở các nước trên Thế giới, nhưng Liên minh Châu Âu có khái niệm về DNNVV cụ thể hơn: Doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 50 gọi là nhỏ; từ 50 đến 250 lao động gọi là vừa. Với một nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới như Mỹ thì họ quy định doanh nghiệp có số 7 lao động dưới 100 thì gọi là doanh nghiệp nhỏ, dưới 500 lao động là doanh nghiệp vừa; ở Thái Lan thì không quy định về lao động và doanh thu, nhưng quy định về vốn đầu tư… Trong hầu hết các nền kinh tế thế giới thì số lượng DNNVV chiếm trên 95%. Ở khối Liên minh Châu Âu thì con số này chiếm khoảng 99% và tổng số lao động trong khu vực này ước khoảng 65 triệu người.
Tiêu chí phân loại DNNVV: Có 2 nhóm tiêu chí - Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như: Chuyên môn hóa thấp, đầu mối quản lý ít, mức độ quản lý không phức tạp… nhóm tiêu chí này có ưu điểm là phản ánh đúng bản chất nhưng không xác định thực tế; - Nhóm tiêu chí định lượng: Lao động, vốn, doanh thu. Trong đó: + Số lao động: Là số lượng lao động thực tế bình quân trong năm; + Tài sản (Vốn): Là tổng giá trị tài sản (Vốn chủ sở hữu); + Doanh thu: Tổng doanh thu/năm Tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, trình độ càng cao thì trị số các tiêu chuẩn càng tăng lên, ngược lại ở một số nước đang phát triển và kém phát triển thì trị số về lao động, vốn, doanh thu… để phân loại DNNVV sẽ thấp hơn các nước phát triển. Ví dụ: Ở Mỹ doanh nghiệp có số lao động dưới 500 thì được xem là DNNVV, nhưng ở Việt Nam quy định này thấp hơn chỉ từ 300 lao động trở xuống thì được xem là DNNVV.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số quốc gia Số lao động Quốc gia Phân loại DNNVV Doanh thu/năm Bình quân/năm Mỹ - DN nhỏ Dưới 100 Không quy định - DN vừa 101 – 499 Nhật Bản - Sản xuất Dưới 300 Không quy định - Thương mại, dịch vụ Dưới 100 Malayxia Không quy định Dưới 150 Dưới 25 triệu RM Indonexia Nhỏ và vừa Không quy Dưới 5 triệu $ định Philippine Nhỏ và vừa Dưới 200 Không quy định 8 Liên minh Châu - Siêu nhỏ - Dưới 10 - Không quy định Âu (EU) - Nhỏ - Dưới 50 - Dưới 7 triệu euro - Vừa - Dưới 250 - Dưới 27 triệu uro Nguồn: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998 Nhiều chuyên gia kinh tế về pháp luật Việt Nam cho rằng khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa và sau đó là doanh nghiệp nhỏ, cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Tiêu chí xác định DNNVV phải dựa vào quy mô của doanh nghiệp, thông thường sử dụng tiêu chí về số lượng lao động và doanh thu/năm, các tiêu chí này thay đổi theo quy định từng quốc gia.
Ở Việt Nam, khái niệm về DNNVV được quy định tại Điều 3 Nghị địnhsố 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Quy Doanh mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn Khu vực I. Nông, từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm 10 người 20 tỷ đồng người đến đồng đến người đến nghiệp và trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người thủy sản II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. từ trên 10 từ trên 10 tỷ Thương 10 người 10 tỷ đồng từ trên 50 người đến đồng đến 50 mại và trở xuống trở xuống người 50 người tỷ đồng dịch vụ Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 9 DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Cũng căn cứ vào quy mô DNNVV có thể chia làm 3 loại là: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Số lượng lao động trung bình trong năm từ 10 người trở xuống; - Doanh nghiệp nhỏ: Số lượng lao động trung bình trong năm từ 10 người đến dưới 200 người; - Doanh nghiệp vừa: Số lượng lao động trung bình trong năm từ 200 người đến 300 người. Như vậy, theo quy định thì tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thỏa mãn 1 trong 2 tiêu chí trên được gọi là DNNVV. Theo cách phân loại tại Nghị định 56/2009/NĐ-CP thì ở nước ta trên 96% doanh nghiệp hiện có thuộc nhóm DNNVV. Cụ thể khối doanh nghiệp Nhà nước có khoảng 80% DNNVV và 97% đối với doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
Khái niệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phạm trù phát triển rất khó định nghĩa một cách chính xác, có thể hiểu phát triển là bao hàm sự tăng trưởng, sự thay đổi cơ cấu theo hướng tiến bộ, hiệu quả, bền vững. Phát triển kinh tế được hiểu là một quá trình vận động đi lên, thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là cải thiện sức khỏe, giáo dục và những khía cạnh khác về phúc lợi xã hội. Trong thực tế thuật ngữ “tăng trưởng kinh tế” và thuật ngữ “phát triển kinh tế” cũng có thể để thay thế cho nhau, nhưng về cơ bản thì khác nhau.
Phát triển kinh tế có nội dung phản ánh rộng hơn tăng trưởng kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế phản ánh về mặt lượng thì phát triển kinh tế còn phản ánh cả về mặt chất. Phát triển DNNVV trên góc độ tổng thể, vĩ mô gồm các tiêu chí là: - Tăng trưởng số lượng; - Tăng trưởng về cơ cấu ngành nghề, chủng loại; - Tăng trưởng về quy mô Phát triển DNNVV trong phạm vi một doanh nghiệp, vi mô bao gồm: 10 - Sự thay đổi về nguồn lực sản xuất kinh doanh; - Áp dụng công nghệ mới, tiên tiến vào SXKD; - Thay đổi quá trình sản xuất; - Hiệu quả SXKD; - Trình độ quản lý… Như vậy, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là sự tăng trưởng lên về số lượng và nâng cao chất lượng, đồng thời tăng sự đóng góp cho xã hội của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Từ khi Đảng và Nhà nước mở cửa nền kinh tế đến nay đã ban hành nhiều chính sách nhằm đổi mới, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài và trong nước, chính sách trợ giúp DNNVV phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên các DNNVV có đặc điểm khác biệt với các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty… trong quá trình hình thành và phát triển. Khác biệt đầu tiên là ở tên của loại hình doanh nghiệp này (DNNVV) có quy mô nhỏ, năng lực về tài chính nhỏ, thường xuất phát từ kinh tế hộ kinh doanh, hộ gia đình, số lượng lao động ít, có xu hướng đầu tư nhiều vào lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống. Do năng lực về vốn nhỏ nên DNNVV thường chọn những ngành nghề sản xuất kinh doanh có chu kỳ ngắn, nhanh thu hồi vốn.
Thứ hai, việc thành lập DNNVV tương đối thuận lợi, để thành lập DN thì vốn không lớn, diện tích (mặt bằng kinh doanh), quy mô nhà xưởng nhỏ, thường là đã có sẵn từ gia đình, từ cá nhân kinh doanh hoặc thuê ngoài. Thứ ba, số lượng lao động trong DNNVV không nhiều, quản trị nội bộ thường mang tính quan hệ gia đình, bạn bè, bà con làng xã… người chủ sở hữu đồng thời là người quản lý, là kỹ thuật… Đây cũng là lý do các DNNVV phát triển rộng khắp cả nước, ở cả thành thị và nông thôn, với nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú, qua 11 đó góp phần tạo điều kiện cho nền kinh tế khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các tiềm năng sẵn có ở địa phương. Thứ tư, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chỉ thực hiện những hợp đồng kinh doanh, xây dựng… nhỏ, sản xuất những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư có mức thu nhập khác nhau.