Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về công nghệ thông tin 1.1 Khái niệm Quản lý nhà nước QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng thống nhất của Nhà nước.2 Khái niệm Quản lý nhà nước về Công nghệ thông tin QLNN đối với lĩnh vực CNTT đó là xây dựng, ban hành các chủ trương, chính sách về ứng dụng và phát triển CNTT; hình thành nên các tổ chức với cơ cấu và cơ chế hoạt động thích hợp để quản lý các hoạt động CNTT. QLNN còn là sự thúc đẩy, kích thích đảm bảo phát triển ổn định và liên tục của CNTT thông qua: xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT, phát triển nguồn nhân lực về CNTT, xây dựng và triển khai các chương trình, dự án, chiến lược phát triển và ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, cùng với đó là công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về CNTT.2 Nội dung, đặc điểm của quản lý nhà nước về công nghệ thông tin 1.1 Nội dung của quản lý nhà nước về công nghệ thông tin Điều 6 Luật CNTT năm 2006 quy định nội dung QLNN về CNTT gồm: Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; Xây dựng, ban hành, tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia, quy Luan van 6 chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ thông tin; Quản lý an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin; Tổ chức quản lý và sử dụng tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia; Quản lý và tạo điều kiện thúc đẩy công tác hợp tác quốc tế về công nghệ thông tin; Quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; Xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh vực công nghệ thông tin; Xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định về việc huy động nguồn lực công nghệ thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh và các trường hợp khẩn cấp; Quản lý thống kê về công nghệ thông tin; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Theo đó, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách ứng dụng và phát triển CNTT, xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định liên quan đến sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh vực công nghệ thông tin, xây dựng cơ chế, chính sách và các quy định về việc huy động nguồn lực công nghệ thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh và các trường hợp khẩn cấp là những nội dung quan trọng trong công tác QLNN về CNTT.
Công tác quy hoạch phát triển CNTT giúp cơ quan quản lý có cái nhìn tổng thể để định hướng phát triển CNTT phục vụ cải cách hành chính nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của CQNN, từng bước xây dựng chính quyền điện tử, cung cấp các dịch vụ công. Công tác lập kế hoạch ứng dụng CNTT giúp đảm bảo triển khai định hướng đã đề ra một cách đúng đắn trên cơ sở đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về CNTT là nội dung không thể thiếu trong QLNN về ứng dụng CNTT. Thông qua việc đề ra các chính sách ưu tiên phát triển CNTT sẽ góp phần thúc đẩy CNTT theo hướng tăng tốc, “đi tắt đón đầu”, đảm bảo hiện đại hóa cải cách hành chính.
Để CNTT phát triển nhanh chóng và hiệu quả cao, cũng rất cần xây dựng, ban hành, tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ thông tin, thúc đẩy phát triển sản phẩm, dịch vụ công ích trong lĩnh Luan van 7 vực công nghệ thông tin và đảm bảo cơ chế huy động nguồn lực công nghệ thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh và các trường hợp khẩn cấp. Để đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, yếu tố hàng đầu là phát triển hạ tầng CNTT và tổ chức quản lý và sử dụng tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia. Thông qua xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch về nội dung này sẽ giúp nhanh chóng hình thành hạ tầng CNTT với các cơ sở dữ liệu dùng chung theo ngành, lĩnh vực hiện đại, đủ điều kiện cho quản lý, triển khai phát triển và ứng dụng CNTT một cách hiệu quả. Bản thân thông tin phục vụ quản lý, điều hành hoạt động của CQNN (cơ quan nhà nước) là rất quan trọng, thuộc danh mục tài liệu mật.
Quản lý an toàn, an ninh thông tin trong hoạt không chỉ là việc thiết lập hệ thống (phần cứng, phần mềm) bảo mật và ban hành các quy định bảo mật mà còn nằm ở khâu tổ chức thực hiện để đảm bảo không lộ, lọt thông tin. Không chỉ CQNN mà các tổ chức, cá nhân đều có trách nhiệm thực hiện việc này theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018. Nhằm thúc đẩy phát triển CNTT, quản lý và tạo điều kiện thúc đẩy công tác hợp tác quốc tế về công nghệ thông tin cũng như quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc tiếp thu công nghệ tiên tiến, chuẩn bị đủ nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ ứng dụng và phát triển CNTT. Thông qua hợp tác quốc tế, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực CNTT đủ về số lượng và bảo đảm về chất lượng cũng như dễ dàng thu hút nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao phục vụ kịp thời cho yêu cầu phát triển đất nước.
Bên cạnh đó, việc quản lý thống kê về công nghệ thông tin và thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin cũng sẽ giúp cơ quan quản lý các cấp theo dõi, đánh giá, kiểm soát kịp thời trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước cũng như đảm bảo việc chấp hành các quy định của nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT trong từng thời kỳ.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về công nghệ thông tin Thứ nhất, đây là hoạt động quản lý lĩnh vực công nghệ cao đầy phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi phải có sự phối hợp cao. CNTT là một lĩnh vực của công nghệ cao, sử dụng các thiết bị, phần mềm tiên tiến, luôn đòi hỏi thay đổi để thích ứng thường xuyên. CNTT hiện đang được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, mọi chủ thể trong xã hội ở các mức độ khác nhau đều đang tham gia triển khai công việc với sự trợ giúp của CNTT. Điều này cho thấy tính phức tạp khi QLNN đối với lĩnh vực CNTT.
Đây không chỉ là quản lý ở một ngành, một lĩnh vực hay một phạm vi nào đó, mà phải bao quát tất cả, phải quản lý trong điều kiện phát triển, thay đổi liên tục cả về nội dung, hình thức. QLNN đối với lĩnh vực CNTT không đơn thuần chỉ là quản lý kỹ thuật mà phải quản lý cả về thông tin, dữ liệu, việc xây dựng, cung cấp, truyền tải, khai thác thông tin, dữ liệu. Tính nhạy cảm đối với thông tin ngày nay đã và đang được đặt ra cho công tác QLNN trong lĩnh vực này nhiều nhiệm vụ khó khăn, phức tạp cần phải giải quyết, đặc biệt là khi phải xử lý thông tin liên quan đến các vấn đề về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế… nhạy cảm. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong thực hiện QLNN về CNTT để vừa đảm bảo sự phát triển đúng hướng vừa đảm bảo an toàn thông tin số.
Thứ hai, QLNN về CNTT không giới hạn theo không gian và thời gian. Cuộc cách mạng CNTT đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và biến đổi hàng ngày. Ở bất cứ nơi đâu, quốc gia nào trên thế giới, CNTT cũng đã được đưa vào khai thác sử dụng. Thông qua CNTT và trao đổi, truyền tải dữ liệu điện tử trên các ứng dụng CNTT, ngoài việc cơ quan quản lý có thể nắm bắt kịp thời, nhanh nhất những diễn biến tình hình, cũng khiến vấn đề đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, đảm bảo kịp thời, nhanh nhất thông tin phục vụ cho chỉ đạo, quản lý, tác nghiệp một cách an toàn trở nên ngày càng cấp bách.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về CNTT thường được yêu cầu phải có trình độ nhất định về công nghệ, kỹ thuật. CNTT là công nghệ cao, các thiết bị và phần mềm CNTT được phát triển và đào thải với tốc độ rất nhanh Luan van 9 theo từng chu kỳ công nghệ 24 tháng/lần, điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về CNTT phải có trình độ đủ để thực hiện được nhiệm vụ theo các yêu cầu quản lý đặt ra, người quản lý phải am hiểu về công nghệ và các xu hướng phát triển để tham mưu cho cấp có thẩm quyền đưa ra các chính sách, quy định thích hợp nhằm quản lý hoạt động phát triển và ứng dụng CNTT, đồng thời cũng phải là người có tư duy tổng hợp tốt để thích ứng nhanh với sự đa dạng, tốc độ thay đổi công nghệ trong licnh vực này. Thứ tư, QLNN về CNTT đòi hỏi phải có sự cập nhật thông tin và tri thức liên tục không ngừng. Với đặc điểm phát triển và lỗi thời rất nhanh của thiết bị và phần mềm CNTT như hiện nay, QLNN đối với lĩnh vực CNTT đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt kịp thời tình hình, thông tin cũng như xu hướng phát triển của CNTT, cập nhật, truyền tải kịp thời các thông tin hữu ích phục vụ quản lý.