Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC Ở DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI HÀNG KHÔNG 1. Quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không - Khái niệm, đặc điểm, vai trò 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không 1. Khái niệm nguồn nhân lực Quan niệm về nhân lực: Có rất nhiều quan niệm về nhân lực.
Theo các phương pháp khác nhau, có các khái niệm khác nhau. Ở phạm vi quốc gia, nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực của một quốc gia phụ thuộc vào quy định của quốc gia đó về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lực lượng lao động của mỗi cá nhân cụ thể [20]. Trong cuốn “Một số thuật ngữ quản trị”, nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu là nguồn nhân lực, nhân lực theo nghĩa được hiểu là dân số trong độ tuổi lao động, tức là lực lượng lao động của mỗi doanh nghiệp.
Khái niệm chung nhất về nhân lực cho rằng nhân lực là tổng thể năng lực và tinh thần của con người tham gia vào quá trình lao động và tổng hợp các yếu tố và tinh thần được huy động trong quá trình đó [50]. Đỗ Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan thì cho rằng “nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”. Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động [42].
9 Quan niệm về nguồn nhân lực: Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” chẳng hạn như: “Nguồn nhân lực là nhân lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [27, tr. Theo Thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là sức lao động của xã hội và là nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm cả dân số trong độ tuổi lao động tham gia sản xuất xã hội, các yếu tố huy động vào quá trình lao động [51]. Theo Liên hợp quốc, “Nguồn nhân lực là toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, khả năng và sức sáng tạo của con người, phù hợp với sự phát triển của mỗi cá nhân và quốc gia”.
Do đó, nguồn nhân lực ở đây được coi là nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo Mác - Lênin thì nguồn nhân lực được xem xét như là một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, là phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực chính là một nhu cầu tất yếu cho sự phát triển của đất nước. Bởi con người là vốn quý nhất, là mục tiêu và động lực cho mọi sự phát triển xã hội.
Ở Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước năm 1986. Thủ tướng Phan Văn Khải từng khẳng định trong buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo 10 thành phố Hà nội đăng trên web “dân trí” rằng: “Nguồn nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” [1]. Theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Thứ nhất, phải xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội; Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó chất lượng thể hiện ở trí tuệ, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống, v.; Thứ ba, việc nghiên cứu nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải liên quan đến thời gian và không gian mà nó tọa lạc. Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng khẳng định: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại” [14, tr.
Ở Việt Nam hiện nay, nguồn nhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (gồm cả những người trên tuổi lao động, thực tế đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do: đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc. Theo nghĩa hẹp hơn, nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, theo Bộ Luật Lao động Việt Nam năm 2019, nam đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi có khả năng lao động [36]. Dựa trên những quan niệm nêu trên và gắn với góc độ nghiên cứu của đề tài, có thể hiểu: “Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong lao động. tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội”.
11 Nói đến năng lực thể chất là nói đến tình trạng sức khỏe của nhân lực. Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chuyển giao và chuyển hóa tri thức thành sức mạnh vật chất để phát triển kinh tế, xã hội. Sức khỏe bao gồm: chiều cao, cân nặng, tình trạng bệnh tật, cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ, chăm sóc sức khỏe. Năng lực tinh thần thể hiện ở sức khỏe tinh thần, đó là khả năng sáng tạo và khả năng thích ứng, bao gồm kỹ năng nghề, khả năng sáng tạo và kinh nghiệm sống, khả năng hiểu biết thực tế, phẩm chất đạo đức, thái độ và phong cách làm việc của nhân viên thông qua các chỉ số như trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, năng lực chuyên môn.
Trình độ tri thức là sự hiểu biết của người lao động về kiến thức tự nhiên và xã hội, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức và kỹ năng, khả năng tiếp thu kiến thức cơ bản. viết, làm những việc đơn giản để kiếm sống. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không Quản lý có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau: Theo Mác, lao động xã hội hay lao động tập thể trực tiếp ít nhiều đều cần có sự quản lý. TS Phạm Ngọc Thanh, “Quản lý là hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những công cụ và phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả nhất, trong điều kiện biến động của môi trường”.
[40, tr20] Quản lý là định hướng mục tiêu và ảnh hưởng cụ thể đến mục tiêu; biểu hiện quan hệ quản lý; quản lý có chủ thể là con người; ảnh hưởng chủ quan tuân theo quy luật khách quan; về mặt công nghệ, quản lý là luồng thông tin. Chủ thể của quản lý là con người. Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. 12 Trật tự này được điều chỉnh bởi nhiều loại quy phạm khác nhau: quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật, v.
Như có thể hiểu theo các khái niệm trên về quản lý nguồn nhân lực, quản lý nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động nhằm thu hút, hình thành, xây dựng, sử dụng và duy trì và phát triển lực lượng lao động có trình độ, tổ chức, đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu. Quản lý nguồn nhân lực là quá trình sử dụng con người trong tổ chức bao gồm tất cả các hoạt động xuyên suốt vòng đời nhân sự: hoạch định nguồn nhân lực; tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Từ đó có thể rút ra khái niệm quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không chính là quá trình hoạch định, tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo, thu hút, sử dụng và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển con người của Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không nhằm đạt được các mục tiêu đã vạch ra. Đặc điểm quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không Thứ nhất, về chủ thể quản lý Quản lý nguồn nhân lực là công việc cơ bản trong công tác cán bộ.
Chủ thể quản lý nguồn nhân lực chính là tập thể ban lãnh đạo, người đứng đầu tổ chức. Đơn vị quản lý có trách nhiệm tổ chức thực hiện để tuyển chọn, đào tạo, bố trí, sử dụng, đánh giá và phát triển đội ngũ lao động nhằm đạt được các mục tiêu đã thiết lập mà tổ chức và xã hội yêu cầu trong quá trình thực hiện. Chủ thể quản lý trực tiếp xem xét và quyết định các khâu: lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng tiêu chuẩn hóa nhân lực, quy hoạch, lựa chọn, bổ nhiệm nhân lực, xem xét, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… Chủ thể quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không bao gồm: 13 Bảng 1: Chủ thể quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp dịch vụ thương mại hàng không HĐQT Tổng công ty HĐQT TCT Cảng hàng không Ban lãnh đạo Công ty Cảng hàng không Ban Giám đốc Trung tâm Nguồn: Báo cáo tổng kết của Trung tâm dịch vụ thương mại hàng không Nội Bài Quản lý nguồn nhân lực ở Doanh nghiệp Dịch vụ thương mại hàng không là công việc hết sức khó khăn và phức tạp và được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau.