Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý năng lực sư phạm của giáo viên trường trung học phổ thông Chương 2: Thực trạng quản lý năng lực sư phạm của giáo viên trường trung học phổ thông Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội. Chương 3: Các biện pháp quản lý năng lực sư phạm của giáo viên trường trung học phổ thông Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƢ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề của đề tài 1.
Thế giới Ngay từ thời cổ đại, vấn đề giảng dạy và quản lý giảng dạy đã được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục học ở cả phương Tây và phương Đông nghiên cứu tổng kết. Ta có thể thấy các tư tưởng và các công trình nghiên cứu quan trọng sau đây: Xôcrat (469-415 TCN) nêu lên quan điểm giáo dục là phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình. Để nâng cao chất lượng giảng dạy thì cần phải có phương pháp phù hợp giúp thế hệ trẻ từng bước khẳng định, tự phát hiện tri thức phù hợp với chân lý. Khổng Tử (551 - 475 TCN) - nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn của Trung Hoa cổ đại đã nêu lên quan điểm về phương pháp dạy là dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp đòi hỏi người thầy phải có một năng lực sư phạm nhất định để thực hiện được điều đó, đồng thời đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải luyện tập, phải hình thành nền nếp, thói quen trong học tập, học không biết chán, dạy không biết mỏi.
Trong giảng dạy, ông đề cao việc tự học, tự tu dưỡng, phát huy tính tích cực sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh, các thầy giáo, cô giáo phải luôn học tập để nâng cao năng lực của bản thân nhất là năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn, từ đó sẽ giảng dạy sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, phát triển động cơ, hứng thú, ý chí của người học. Đến nay phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn là những bài học lớn cho cán bộ quản lý và giáo viên. Cuối thế kỷ XIV, chủ nghĩa Tư bản bắt đầu xuất hiện, vấn đề lý luận giảng dạy và quản lý giảng dạy đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm và lý luận quản lý đã hình thành có hệ thống hơn. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ 6 z XX, khoa học giáo dục đã thực sự có những biến đổi mới về lượng và chất.
Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực sự định hướng cho hoạt động giáo dục, đó là các quy luật về “sự hình thành cá nhân con người”, về “ tính quy luật về kinh tế - xã hội đối với giáo dục”. Các quy luật đó đã đặt ra những yêu cầu đối với quản lý giáo dục và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học Liên Xô cũ đã có được những thành tựu khoa học đáng trân trọng về quản lý giáo dục. Việt Nam Ở Việt Nam, các tư tưởng về quản lý và giáo dục cũng đã được đề cập đến trong các tác phẩm của các nhà giáo dục thời phong kiến như: Nguyễn Trãi, Chu Văn An.
Trong thời kỳ cách mạng, trước hết phải nói đến tư tưởng, quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kế thừa tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về: Vai trò của giáo dục đối với phát triển xã hội, phát triển con người; định hướng phát triển giáo dục, mục đích của giáo dục, các nguyên lý, phương thức giáo dục, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý. Hệ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị rất cao trong quá trình phát triển lý luận giảng dạy, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam, gần đây nhiều nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, quản lý giáo dục.
Cùng với các lĩnh vực quản lý khác, quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Có nhiều công trình nghiên cứu đã góp nhiều giá trị trong lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục. Tác giả Hồ Văn Vĩnh trong Giáo trình “Khoa học quản lý” [22, tr. 27] 7 z và tác giả Trần Quốc Thành trong giáo trình “Khoa học quản lý đại cương” [20, tr.
2] đã đề cập đến lịch sử tư tưởng quản lý và chức năng quản lý. Về quản lý giáo dục, các tác giả Phạm Khắc Chương trong Giáo trình “Lý luận quản lý giáo dục đại cương” [6, tr. 42] và tác giả Trần Kiểm trong Giáo trình “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” [13, tr 35] đã nghiên cứu về quản lý giáo dục, các chức năng quản lý giáo dục, một số vấn đề về quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường. Tác giả Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục quản lý nhà trường” đã nghiên cứu về nhà trường và quản lý, lãnh đạo nhà trường [13, tr.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính phổ quát đó, một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đề cập đến vấn đề quản lý giáo dục, Tác giả Nguyễn Năng Tuấn nghiên cứu về - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Ban quản lý trung tâm Hải Dương thuộc trường Đại học Sư Phạm Hưng Yên [21], tác giả Nguyễn Tân An nghiên cứu về - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng đào tạo trường Cao đẳng Dược Trung Ương - Hải Dương [1] và tác giả Lưu Thị Kim Phượng nghiên cứu về - Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Thái Nguyên [17]. Ngoài ra còn rất nhiều luận văn đề cập nghiên cứu nhiều khía cạnh của quá trình quản lý hoặc quản lý giáo dục. Hầu hết các tác giả đã đánh giá một cách cụ thể và sâu sắc thực trạng công tác quản lý giáo dục tại một số trường, đồng thời đề ra một số biện pháp quản lý hợp lý nhằm giải quyết vướng mắc ở từng cở sở giáo dục cụ thể. Một số khái niệm cơ bản 1.
Biện pháp Theo định nghĩa triết học thì “biện pháp” là cách thức, là con đường để chuyển tải nội dung. Theo ý nghĩa này, thì chính nội dung quy định lựa chọn, sử dụng biện pháp. Theo nghĩa khái quát, biện pháp là cách thức, con đường để giải quyết vấn đề cụ thể nào đó nhằm đạt được mục đích nhất định. Khái niệm biện pháp có quan hệ với khái niệm giải pháp.
Giải pháp là 8 z khái niệm rộng hơn khái niệm biện pháp, mang cả tính chất lý luận và có ý nghĩa định hướng cho nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề theo mục đích nhất định. Như vậy giải pháp là tổng hợp nhiều biện pháp nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể. Khái niệm quản lý và chức năng của quản lý 1. Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo.
Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Quản lý là hoạt động nảy sinh từ nhu cầu cuộc sống của con người từ khi có sự hợp tác và phân công lao động. Hoạt động của con người càng phong phú, đa dạng, trình độ càng cao thì đòi hỏi trình độ quản lý, điều hành càng cao hơn. Các Mác đã nhận định: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân.
Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [15, tr. Như vậy, theo Các Mác thì quản lý là một hoạt động tất yếu trong bất cứ một hình thức lao động tập thể nào nhằm điều hành, phối hợp những hoạt động của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu chung của tập thể, của tổ chức. Ông ví hoạt động của các tổ chức, tập thể cần phải có hoạt động quản lý như một dàn nhạc cần phải có người chỉ huy.
Do tính chất phong phú, đa dạng và phức tạp trong hoạt động của con người nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý tùy theo cách tiếp cận của các tác giả.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ 9 z phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động, cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Koontz - người Mỹ thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó có con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và bất mãn cá nhân ít nhất”. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã lý giải một cách đầy đủ hơn và phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý.