Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý mua sắm tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng quản lý mua sắm tài sản nhà nước tại Bộ Tư pháp. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý mua sắm tài sản nhà nước tại Bộ Tư pháp. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ MUA SẮM TÀI SẢN CÔNG TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Tổng quan về tài sản công trong các cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp công lập 1. Tổng quan về tài sản công Một trong những nguồn lực quan trọng để một quốc gia tồn tại và phát triển đó là nguồn tài sản quốc gia. Những tài sản này có thể được hình thành, tích lũy qua nhiều thế hệ hoặc được thiên nhiên ban tặng. Trong phạm vi một quốc gia, tài sản có thể thuộc sở hữu từng thành viên, từng nhóm thành viên hoặc sở hữu chung của tất cả các thành viên trong một quốc gia đó.
Đối với tài sản thuộc sở hữu chung của tất cả các thành viên thì Nhà nước là chủ sở hữu của tất cả các tài sản đó. Có nhiều cách hiểu khác nhau về TSC tùy thuộc vào cách tiếp cận. Một trong những khái niệm được chấp nhận phổ biến là: TSC là nguồn của cải vật chất được hình thành, tồn tại trong tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra mà quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt thuộc về Nhà nước. Ở một số nước phát triển như Vương quốc Anh: TSC là TSNN, TSC là một bộ phận hết sức quan trọng trong tổng tài sản quốc gia.
Giá trị và số lượng TSC lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào đặc trưng quan hệ sản xuất của các hình thái kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn của từng nước. Riêng Cộng hòa Pháp: TSC là tài sản quốc gia được hiểu là toàn bộ tài sản và quyền hạn đối với động sản và bất động sản thuộc về Nhà nước. Ở Việt Nam, TSC được quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, theo đó: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là TSC thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.” 7 Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định về tài sản thuộc sở hữu toàn dân tại Điều 197 như sau: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là TSC thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.” Bộ luật Dân sự cũng quy định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu toàn dân gồm: Tài sản vô chủ là tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó; Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu; Tài sản do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận; Tài sản không có người nhận thừa kế trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản. Các tài sản trên được xác lập sở hữu nhà nước theo các điều kiện quy định tại Điều 228, Điều 229, Điều 230 và Điều 622 Bộ luật Dân sự Ngoài ra các tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước còn bao gồm: - Tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiến, biếu, tặng, cho, đóng góp, giao lại cho Nhà nước, tài sản viện trợ của các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ.
- Tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung công quỹ nhà nước. - Tài sản dự trữ nhà nước. - Tài sản được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Từ các căn cứ trên, có thể khái quát: TSC là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ NSNN hoặc có nguồn gốc NSNN, tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật, tài sản trong các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao, đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn gốc từ NSNN, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế, vùng trời.
8 Ngày 21/6/2017, Quốc hội đã thông qua Luật quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 thay thế Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, theo đó, khái niệm TSC theo pháp luật Việt Nam được quy định tại khoản 1, Điều 3 của Luật này, cụ thể như sau: “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: TSC phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; TSC tại doanh nghiệp; tiền thuộc NSNN, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác” Trong một quốc gia, TSC chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào quan hệ sản xuất đặc trưng ở mỗi giai đoạn lịch sử. Ở Việt Nam, tỷ trọng TSC đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản quốc gia. Khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực TSC cũng là góp phần đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Những vấn đề chung về cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước là những bộ phận cấu thành bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan được thành lập để thực hiện chức năng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật (Hoạt động lập pháp, tư pháp, hành pháp và hành chính). Cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung do Hiến pháp và pháp luật quy định. Cơ quan nhà nước được tổ chức, cơ cấu và có thẩm quyền mang tính quyền lực - pháp lý có hiệu lực bắt buộc đối với xã hội. Đồng thời các cơ quan hành chính nhà nước còn có những đặc điểm riêng, tạo thành một hệ thống thống nhất, theo thứ bậc, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước bằng các phương thức quản lý, tổ chức điều hành và phối hợp hành 9 động một cách đồng bộ và tuân thủ những quy định của Nhà nước.
Cơ quan nhà nước có thể phân loại theo một số cách sau đây: Phân loại theo thủ tục thành lập: có cơ quan do Quốc hội thành lập hoặc Hội đồng nhân dân thành lập, có cơ quan do Chính phủ, các Bộ, các UBND thành lập. Phân loại theo cấp hành chính: có cơ quan Trung ương (Chính phủ và các Bộ), cơ quan địa phương (UBND và cơ quan chuyên môn). Phân loại theo thẩm quyền: cơ quan có thẩm quyền chung (Chính phủ và các Bộ), có cơ quan có thẩm quyền riêng chỉ có chức năng và thẩm quyền quản lý thuộc phạm vi đối với ngành hoặc lĩnh vực nhất định như các Bộ, các sở. Phân loại theo hoạt động: có cơ quan quản lý ngành và cơ quan quản lý lĩnh vực công tác.
Đơn vị sự nghiệp công lập a) Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức được Nhà nước thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, nghiên cứu. có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì các đơn vị này cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng cao, quy trình công nghệ cao, công trình nghiên cứu khoa học cơ bản phục vụ cho kinh tế - xã hội phát triển. Chú ý: Ngoài những đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước thành lập (được gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), còn có những đơn vị sự nghiệp do các Tổ chức xã hội, nghề nghiệp và các thành phần kinh tế khác không thuộc Nhà nước (có thể gọi là đơn vị sự nghiệp ngoài công lập) nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của mọi thành phần kinh tế phù hợp với chủ trương xã hội hoá các đơn vị sự nghiệp hiện nay của Chính phủ. b) Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước có những đặc điểm sau đây: - Đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước là đơn vị do Nhà nước thành 10 lập, chịu sự kiểm tra trực tiếp của cơ quan nhà nước thành lập ra mình và các cơ quan cấp trên nhằm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quyết định thành lập và các quy định của pháp luật hiện hành.
- Đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước có con dấu riêng, tài khoản riêng và có thẩm quyền pháp lý nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định và thực hiện các hoạt động khác phù hợp quy định của pháp luật hiện hành. - Các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước có quyền tự chủ về tài chính ở các mức độ khác nhau tuỳ theo khả năng của đơn vị trong việc cung cấp những Dịch vụ công cho xã hội và các quy định của pháp luật hiện hành. - Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước phải bảo đảm thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ theo quyết định thành lập. Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp có thể chủ động tận dụng năng lực sẵn có về cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của cán bộ trong đơn vị mình để hợp tác với các thành phần kinh tế trong xã hội nhằm tăng thêm thu nhập và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên phù hợp với những quy định của Nhà nước.
c) Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập có thể phân loại theo một số cách sau đây: - Phân loại theo thủ tục thành lập: có đơn vị do Quốc hội thành lập hoặc Hội đồng nhân dân thành lập, có đơn vị do Chính phủ, các Bộ, các UBND thành lập.