Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Làng nghề Cho“đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề”. Theo tác giả Bùi Văn Vượng (2002)”thì cho rằng:“Làng nghề là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ”công.
Ở“đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề”nông. Nhưng”yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của”mình [57, tr.” Theo“Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề”truyền thống. Theo đó,“nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất”truyền [3].
Làng nghề“được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư”này. Đối“với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề (theo tiêu chí (a) và (b) trên đây) nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền”thống. Theo Thông tư“số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2011 về việc quy định về bảo vệ môi trường làng nghề của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường”thì “Làng nghề là một (01) hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [5]. Như“vậy khái niệm làng nghề có thể”tổng hợp bao“gồm những nội dung chính”sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó 13 bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa”.
Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn. Sự“phát triển của các làng nghề đang dần thay đổi bộ mặt nông thôn, cải thiện”đời sống người dân lao động các địa phương. Môi trường làng nghề và ô nhiễm môi trường * Môi trường làng nghề Theo định nghĩa của Tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên“Hợp Quốc (UNESCO) thì Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin.), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của”mình. Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Môi trường năm 2020, môi trường được hiểu: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên”.
Trên cơ sở khái niệm làng nghề, khái niệm môi trường, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm môi trường“làng nghề được hiểu là: Môi trường làng nghề được hiểu là tất cả các yếu tố có nguồn gốc tự nhiên, nhân tạo tác động đến quả trình hình thành, phát triển của các làng nghề. Môi trường làng nghề được nghiên cứu là môi trường đất, nước, không khí và môi trường cảnh quan có thể ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các làng nghề.” * Ô nhiễm môi trường Sự“biến đổi các thành phần môi trường”có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm. Các chất gây ô nhiễm được các nhà khoa học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lí khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm. Thông thường các chất gây ô nhiễm là chất thải, tuy nhiên, chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, phế liệu, phế phẩm.
14 Theo khoản 12, Điều 3, Luật Môi trường năm 2020, “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên”. Quản lý nhà nước về môi trường làng nghề Quản lý là sự tác động của“một chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường ngoài.“Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của quản lý”nhằm phối hợp mục tiêu và động lực hoạt động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới tiêu chuẩn chung”[27, tr. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do Nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối. để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Quản lý nhà nước là sự quản lý xã hội bằng quyền lực của Nhà nước, ý chí Nhà nước, thông qua bộ máy Nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, theo thời gian nhất định với hiệu quả cao [27, tr. Hiện“nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường. Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính: quản lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi”trường. Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất.
Quản“lý nhà nước về môi trường”là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý nhà nước về môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành. QLNN về môi trường“là nhiệm vụ của mỗi quốc gia và toàn nhân loại, là chức năng của các cơ quan nhà nước, các cơ quan sự nghiệp liên quan, là trách 15 nhiệm của các tổ chức”KT-XH cũng như mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân. Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về QLNN về môi trường. Từ những tiếp cận trên, có thể khái quát: QLNN về môi trường làng nghề“là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường làng nghề và phát triển bền vững”kinh tế-xã hội làng nghề.
Mục tiêu“chung của QLNN về môi trường làng nghề là phát triển bền vững, giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển KT - XH và BVMT làng nghề, khi đó: Phát triển kinh tế làng nghề tạo ra tiềm lực về vốn, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ. phục vụ cho công tác BVMT làng nghề; Ngược lại, BVMT làng nghề chính là duy trì, sử dụng hợp lý và bảo vệ các tiềm năng tự nhiên, xã hội nhằm đáp ứng, thỏa mãn những yêu cầu, đòi hỏi của quá trình phát triển làng”nghề. QLNN về môi trường làng nghề vừa là điều kiện vừa là mục tiêu phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh; hạn chế tối đa tác hại của môi trường và những xung đột do ô nhiễm môi trường gây ra. Bởi vậy, QLNN về môi trường và giảm thiểu các tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất kinh doanh tại các làng nghề, đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn và chủ trương xây dựng nông thôn mới.
Từ các khái niệm được nêu ở trên ta thấy: QLNN địa phương về môi trường làng nghề“là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường làng nghề và phát triển bền vững kinh tế-xã hội”làng nghề của địa phương. QLNN địa phương về môi trường làng nghề là một quá trình triển khai các văn bản pháp luật liên quan đến QLNN về môi trường làng nghề. Đồng thời ban hành các văn bản quy định về cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường làng nghề nhằm cụ thể hóa các văn bản đó, thể hiện sự năng động sáng tạo và phù hợp với điều kiện của địa phương trong sự phát triển kinh tế xã hội. Chủ thể“quản lý môi trường làng nghề” Ở địa phương, đối với cấp tỉnh: cơ quan chức năng là sở Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham 16 mưu, giúp UBND cấp tỉnh QLNN môi trường làng nghề ở địa phương theo quy định của pháp luật; các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Sở Tài nguyên và Môi trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Tài nguyên môi trường. Đối với cấp huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện QLNN“về môi trường làng nghề.