CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA – ĐÁNH GIÁ TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý kiểm tra – đánh giá KQHT trong đào tạo theo tín chỉ Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết đánh giá trong giáo dục, đặc biệt phát triển mạnh ở Hoa Kỳ và Anh. Các ấn phẩm liên quan đến nó đã được phát hành rộng rãi và có hiệu đính tái bản hàng năm và được nhiều nước trên thế giới đón nhận để sử dụng và tham khảo. Đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về kiểm tra và đánh giá kết quả học tập như công trình của James H.
Mcmillan, xuất bản lần 2 năm 2001 của Viện đại học Quốc gia Virginia, của giáo sư Patrick Griffin thuộc trung tâm nghiên cứu và đánh giá của trường đại học Melbourne, GS.danh dự của trường đại học Hamburg- ông Neville Postlethwait, và các tác giả khác,.Các công trình nghiên cứu trên làm cơ sở lí luận cho việc tiến hành xây dựng và sử dụng các bài kiểm tra – đánh giá KQHT ở từng lĩnh vực hay môn học cụ thể. Ở Việt Nam, khoa học về đánh giá trong giáo dục trước đây trong tình trạng khá lạc hậu và chậm phát triển, đến nay ngành khoa học này vẫn còn khá mới và non trẻ ở nhiều trường đại học. Trước năm 1975 ở Miền Nam có vài người được đào tạo về khoa học này từ các nước phương tây, trong đó có giáo sư Dương Thiệu Tống. Ông đã đưa test vào ngành giáo dục để thực hiện nhưng không thành công.
Sau đó tác giả chỉ áp dụng ngân hàng câu hỏi vào việc thi kiểm tra đánh giá và đặc biệt áp dụng vào việc thi tuyến sinh Đại học. Trường Đại học áp dụng mô hình thi trắc nghiệm đầu tiên ở nước ta là trường Đại học Đà Lạt. Từ năm 1990 trở lại đây việc kiểm tra – đánh giá KQHT của người học, sinh viên được Bộ Giáo dục và Đào tạo chú trọng phát triển và thường xuyên thay đổi các phương pháp kiểm tra – đánh giá nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Một số nhà giáo dục trong nước cũng đã bắt đầu quan tâm đến hoạt động 7 z kiểm tra – đánh giá KQHT của sinh viên và có những bài viết, nghiên cứu về lĩnh vực này như: - Phương pháp kiểm tra – đánh giá KQHT của sinh viên khoa tiếng nước ngoài, trường CĐSP Nam Định do tác giả Nguyễn Thị Minh Cảnh viết.
Bài viết này tác giả nhấn mạnh kiểm tra – đánh giá KQHT của sinh viên là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo. Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy-học thì việc nghiên cứu đổi mới phương pháp kiểm tra – đánh giá KQHT của người học, sinh viên để phù hợp với đổi mới phương pháp dạy và học là việc làm không thể thiếu và đặc biệt quan trọng trong xu thế đổi mới giáo dục và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay. - Trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thìn đã làm rõ vấn đề: “Kết hợp đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập và đổi mới phương pháp, hình thức dạy học tạo động lực thúc đẩy sinh viên tích cực học tập” [16, tr.148] thông qua kết quả đo nghiệm. Tác giả Thìn đã đưa ra các số liệu chứng minh rằng việc kết hợp đổi mới kiểm tra – đánh giá KQHT và đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm tạo động lực học mạnh mẽ, bền vững từ đó giúp sinh viên tự giác, tích cực chủ động trong học tập,.
- Tác giả Trịnh Khắc Thẩm với bài viết “Đổi mới phương pháp dạy – học và kiểm tra, đánh giá- Giải pháp hàng đầu để nâng cao chất lượng đào tạo”. Bài viết này đã chỉ ra được việc đổi mới phương pháp dạy – học là một đòi hỏi khách quan và cấp bách. Song song với việc đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền với việc đổi mới phương pháp tổ chức thi, kiểm tra – đánh giá KQHT về tri thức, kĩ năng và kĩ xảo của người học. Sau cùng tác giả đã đưa ra các giải pháp điều kiện và lộ trình đảm bảo cho việc triển khai kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học và thi, kiểm tra – đánh giá KQHT của sinh viên ở trường Cao đẳng Lao động- Xã hội.
- Tác giả Trần Thị Bích Liễu đã phân tích và đưa ra 5 tiêu chí “đánh giá đúng” trong bài viết “Để đánh giá KQHT của sinh viên một cách có chất lượng”. Tiếp theo tác giả liệt kê 5 yếu kém của kiểm tra – đánh giá KQHT ở đại học 8 z rồi phân tích các nguyên nhân đó và cuối cùng đưa ra 3 kết luận về việc làm thế nào để kiểm tra – đánh giá KQHT của sinh viên một cách có chất lượng. - Tác giả Hoàng Bá Thịnh đã đề cập đến vấn đề: Từ sự khác biệt điểm thi môn xã hội học đại cương: Nghĩ về đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Thông qua kết quả khảo sát của mình, tác giả đã chỉ ra rằng có những ý kiến khác nhau về kiểm tra – đánh giá KQHT của sinh viên, trong khi còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về cách đánh giá thì có một thực tế là có sự khác biệt về điểm đánh giá trong cùng một môn học giữa các giảng viên.
Qua đó tác giả đưa ra kết luận khoa học: “Cần thiết phải có quan điểm, nhận thức và phương pháp khoa học trong việc đánh giá KQHT của sinh viên. Nếu không, giáo dục đại học Việt Nam khó tránh khỏi việc tạo ra những sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa” [16,tr.241] - Tác giả Nguyễn Quý Thanh đã bàn về Một số dạng hành vi học tập đặc trưng của sinh viên. Nói cách khác các dạng hành vi này có ảnh hưởng không nhỏ đến KQHT của người học. Vì vậy, giảng viên cần quan tâm đến các hành vi đặc trưng này trong quá trình dạy học và đánh giá KQHT của sinh viên.
Cũng trong thời gian này có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như của PGS.TS Nguyễn Phương Nga, GS.TS Nguyễn Đức Chính chủ biên, PGS. TS Lê Đức Ngọc, TS. Phạm Xuân Thanh, và một số tác giả khác,.nghiên cứu về đề tài đánh giá trong giáo dục. Đến nay, Bộ GD&ĐT đã chú trọng hơn vào chất lượng đào tạo ở các bậc học.
Song song với việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập thì chủ trương của Bộ là cần phải đổi mới quá trình kiểm tra – đánh giá KQHT cho người học nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng và đánh giá chính xác năng lực của người học. Chính vì vậy, đã có các cuộc điều tra khảo sát ở các cấp khác nhau về kiểm tra – đánh giá KQHT cho người học, sinh viên. Tùy theo mục tiêu của các đợt kiểm tra – đánh giá KQHT mà có các điều chỉnh phù hợp. Các khái niệm cơ bản của luận văn 1.
Quản lý Quản lý là một hoạt động phổ biến không thể thiếu được trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và có tác động liên quan đến con người. Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thức đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại.
Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuậ đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đều tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”[3, tr.480] Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm: Theo F.Taylo (1856-1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không”. 10 z Henri Faylo (1841-1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [4, tr. Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “ Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của cá nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [8, tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý của một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý. Quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” bao gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống vào thế phát triển” [2, tr.