CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 GIỚI THUYẾT VỀ SÂN KHẤU KỊCH NÓI 1. Khái lược về sân khấu kịch nói thế giới Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp, trong sân khấu người ta có thể nhìn thấy các nghệ thuật khác tồn tại trong đó. Sân khấu đã tồn tại và phát triển hàng ngàn năm cùng với nó là nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, nghệ thuật dàn cảnh của đạo diễn và tổng hòa các yếu tố của hội họa, điêu khắc… Qua nhiều tài liệu và những chứng cứ lịch sử để lại, thì kịch nói đã xuất hiện và đạt tới trình độ phồn vinh từ thời cổ đại ở phương Tây. “Về hình thức nghệ thuật, sân khấu thời Hy Lạp là sự phối hợp giữa kịch, âm nhạc và múa hát trong một vở diễn, sau dần dần tách ra thành những thể loại chuyên kịch nói, chuyên hát và chuyên múa”[141, tr 7].
Thời Hy Lạp, La mã, công chúng được xem biểu diễn không tốn tiền, lại còn được nhà nước cho ăn để có thời giờ xem kịch. Từ năm thế kỷ trước Thiên chúa giáng sinh, sân khấu Hy Lạp, nền sân khấu sớm nhất châu Âu, đã để lại cho nhân loại cả mấy chục danh tác với những tên tuổi như Eschyle, Sophocle, Euripide, và Aristophane, một tập lý luận uyên thâm thông qua Poetique của Aristote, những lý luận về kịch của Aristote giai đoạn này cho đến ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Hình thức tổ chức Hội diễn hàng năm của thành Athènes và phế tích Amphitheatre ở Epidaure là những chứng tích cụ thể một thời vàng son của sân khấu. Ngay cả trong giai đoạn khó khăn của “đêm trường trung cổ” thì kịch nói vẫn tồn tại phát triển bằng cách “nấp bóng vào các giáo đường thiên chúa, gò mình trong các vở Mystères và Passion xa lánh thế tục” [141, tr 6 ].
Đến thời Phục hưng sân khấu lẫy lừng với các tên tuổi của các thiên tài như Shakespeare, Goldoni, Lope De Vega, lúc này kịch nói đã có tổ chức là các đoàn kịch, nhà hát, dàn dựng và biểu diễn các vở diễn tại các quảng 12 trường. Đến thế kỷ XVII sân khấu kịch nói thế giới đón nhận những tác phẩm nổi tiếng của tác giả lừng danh Moliere (diễn viên kiêm tác giả). Đầu thế kỷ XIX với sự xuất hiện của Vitor Hugo (đại văn hào, tác giả) kịch nói thế giới lại được đón nhận thêm những tác phẩm mới, đặc sắc…. Tuy nhiên, những cột mốc trên đây dù kịch nói có phát triển nhưng vở diễn là vở diễn của tác giả, của diễn viên chứ vai trò của đạo diễn chưa được hình thành một cách chính thức.
“Vitor Hugo đã viết Bài tựa Cromwell, là một tuyên ngôn nổi tiếng của kịch lãng mạn. Nhưng không ai nhắc tới người đã dàn dựng vở kịch trên sân khấu” [113, tr. Có thể nói thời Phục Hưng và vài thế kỷ sau đó là giai đoạn vàng son của sân khấu kịch thế giới, hãy cứ nhìn vào những tác phẩm để đời của Shakespeare, Moliere, Lope De- Vega …mà các nhà hát hiện nay trên thế giới vẫn tiếp tục dàn dựng biểu diễn thì chúng ta cũng có thể hình dung được nghệ thuật kịch giai đoạn này phát triển cao như thế nào. Từ nửa thế kỷ XIX sự phát triển của kịch nói được nâng lên một bước với sự xuất hiện những lý luận về công tác đạo diễn với các tên tuổi như: Goethe, Schiller, Lessing.
Bằng sự tìm kiếm cái mới cho lịch sử sân khấu, cách tân cái cũ, loại bỏ cái lỗi thời những người làm sân khấu kịch nói đã tạo nên một diện mạo mới cho loại hình nghệ thuật này. Về lý luận kịch giai đoạn này có vai trò rất lớn của Lessing, ông đã đưa ra một học thuyết mới về bi kịch so với giai đoạn trước đó, trong hàng loạt bài viết ở Nghệ thuật kịch Hămbuôc, ông chỉ ra rằng “lý luận kịch của chủ nghĩa cổ điển đã làm sai lệch học thuyết của Aritote về bi kịch- Nói riêng, điều đó được thể hiện ở chỗ các nhà cổ điển đã hiểu bi kịch như là tác phẩm kịch khơi gợi sự kinh khủng…Lessin cho rằng, sự xác định về bi kịch mà Aristote đưa ra hoàn toàn không phải là một công thức lôgich nghiêm ngặt” [3, tr. Sẽ là thiếu sót nếu sân khấu hiện đại ngày nay phát triển mà không nhắc đến công lao của : Gordon Craig ở Anh, Reinhardt ở Đức, Stnislavski ở 13 Nga, Antoine ở Pháp, Grotowski ở Ba Lan, Peter Brook ở Pháp họ chính là những cái mốc của sân khấu hiện đại. Nghệ thuật kịch nói thế giới phát triển đến đỉnh cao trong thời hiện đại với sự xuất hiện hàng loạt các tên tuổi như : Zaharov, Lioubimov, Efrostovstonogov ở Liên Xô (cũ); Baty, Vilar, Planchon ở Pháp; Grotovski, Kantor ở Ba Lan; Peter Brook ở Anh; Bertold Brecht ở Đức … Đặc biệt thế kỷ XX đánh dấu sự xuất hiện của hai quan điểm đối lập nhau trong nghệ thuật sân khấu kịch nói của Stanislavski và Bertold Brecht.
Stanislavski với chủ nghĩa hiện thực tâm lý làm cho dòng kịch Aristote đã tìm được một hình thức biểu diễn và đạo diễn hoàn chỉnh sâu sắc nhất. Còn với Bertold Brecht là người đã khởi xướng dòng kịch “phi Aristotet”, sân khấu tự sự, gián cách. NSND Đình Quang đã cho rằng “cuộc khởi xướng của Brecht là có ý nghĩa nhất, bởi Brecht không chỉ mở ra một phép biên kịch khác hẵn với truyền thống hàng ngàn năm, mà đi kèm với nó là chủ trương một phương pháp đạo diễn và diễn xuất tương xứng” [141, tr. Chính sự xuất hiện những quan điểm mới này đã tạo nên những nhà hát diễn kịch nói với nhiều phong cách khác nhau, có thể nói đây là thời kỳ trăm hoa nở rộ của các nhà hát ở châu Âu.
Như vậy kịch nói ở châu Âu đã liên tục được chuyên môn hóa từ thấp đến cao, từ hình thức biểu diễn đến các thể loại kịch, từ các công trình lý luận đến việc xác định nâng cao vai trò của tác giả, diễn viên, đạo diễn và các thành phần sáng tạo. Chính vì được chuyên môn hóa từng loại hình từ rất sớm nên kịch Drame (kịch nói) của châu Âu đã trở nên hầu như là một loại hình nghệ thuật mang tính quốc tế. Sự “chuẩn hóa” cũng như khả năng thích ứng nhạy bén theo môi trường xã hội đã giúp cho nghệ thuật kịch nói rất dễ dàng du nhập vào các quốc gia khác trên thế giới, nhất là những quốc gia có những tiếp xúc với văn hóa châu Âu trong đó có Việt Nam ta.2 Khái lược về sự hình thành của kịch nói Việt Nam Kịch nói là tên gọi “đã quen dùng ở nước ta và gần như đã trở thành tên gọi chính thức cho cả thể loại sân khấu này nhằm phân biệt với thể loại ca kịch truyền thống ở nước ta là tuồng, chèo, cải lương. Kịch nói là loại hình sân khấu mà đài từ dùng bằng văn vần hay văn xuôi, phương thức biểu diễn đài từ là dùng lời nói (hoặc ngâm nếu là văn vần).
Yếu tố ca nhạc trong kịch nói là rất thứ yếu, nếu có”[55, tr. Trước khi kịch nói vào Việt Nam, thì tại nước ta lúc bấy giờ chỉ có các loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, múa rối… Khi thực dân Pháp xâm chiếm và biến nước ta hoàn toàn thành thuộc địa thì văn hóa Pháp đã có điều kiện xâm nhập một cách toàn diện, sâu sắc. Dòng người từ Pháp qua ngày càng đông, các trường học dạy cho con cái của họ mở ra ngày càng nhiều và bên cạnh đó việc giải trí dành cho người Pháp cũng được chú trọng. Lúc bấy giờ, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã hình thành, bộ mặt của thành thị và đời sống của thị dân cũng ngày càng đổi mới.
Khi ý thức hệ tư tưởng tư sản và chiều hướng tư sản hóa ở thành thị ngày càng bành trướng thì văn hóa phương Tây cũng dần dần thay thế những tứ thư, ngũ kinh trong địa hạt học thuật và đời sống. Đối với tầng lớp trí thức, viên chức, học sinh, sinh viên, công thương gia, thì sự chuyển biến về đời sống, tư tưởng, tình cảm, nhận thức cũng đồng thời kéo theo sự thay đổi về mỹ cảm. Với họ, nội dung và hình thức văn nghệ của thời đại phong kiến ngày càng ít phù hợp với tâm tư và thị hiếu của họ. Họ đòi hỏi phải có một nội dung và hình thức diễn xướng phù hợp với tình cảm và mỹ cảm mới.
Trước những yêu cầu đó của xã hội các loại hình nghệ thuật ca kịch cổ truyền của dân tộc như tuồng, chèo cũng có những chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của tầng lớp thị dân mới này. Duy chỉ có Cải lương trong Nam Bộ lúc bấy giờ, một loại hình được hình thành sau đại 15 chiến thứ nhất và dựa trên cơ sở âm nhạc dân tộc cổ điển và thanh ca dân gian với những lối diễn xuất mới (tuy về hình thức có chịu ảnh hưởng từ Tuồng) gần với đời sống thực hơn và phần nào phản ánh kịp thời một số vấn đề của quá trình đô thị hóa nên được nhân dân Nam Bộ yêu thích nhưng cũng không thỏa mãn được hết nhu cầu và thị hiếu mới của quần chúng nhất là công chức, học sinh, sinh viên theo Tây học. Chính những người sau này đi tiên phong trong việc xây dựng và phát triển kịch nói ở nước ta là những người đã được học kịch nói từ trong trường Tây, có thể kể đó là: Đoàn Ân, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Hữu Kim, Vũ Đình Long, Hồ Trọng Hiếu… Trong khi đó như đã trình bày ở trên, để phục vụ cho người Pháp năm 1901 thực dân Pháp đã cho khởi công xây dựng Nhà hát Lớn tại Hà Nội (còn gọi là Nhà hát Tây) và hoàn thành vào năm 1911 trước đó Nhà hát Lớn ở Sài Gòn cũng được xây dựng hoàn thành vào 01/01/1900. Một vài đoàn kịch Pháp đã sang biểu diễn ở Hà Nội và Sài Gòn, đồng thời trong những câu lạc bộ của các viên chức Pháp và của binh lính cũng thỉnh thoảng diễn đôi ba vở kịch Pháp, điển hình là Câu lạc bộ Đồn Thủy ở Hà Nội là nơi thường hay tổ chức biểu diễn kịch và hòa nhạc lấy tiền.
Mặt khác, những tổ chức giáo hội cũng thường tổ chức diễn thánh kịch để tuyên truyền và cũng có khi lấy tiền để chi vào việc từ thiện, việc đạo. Thời gian này hội “Nam thánh giáo” đã diễn kịch Đức chúa Giê-su chịu nạn cho thiên hạ tại trường cố để lấy tiền tu bổ cho trường.