phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn bố cục làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa. Công tác đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa tại Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trƣờng Đại học Văn hóa TP.1 Tổng quan về Trƣờng Đại học Văn hóa TP. HCM và Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật.2 Quá trình đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa của Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật từ năm 2006 - 2015.3 Đánh giá thực trạng.4 Những nguyên nhân ảnh hƣởng công tác đào tạo.
Chƣơng 3: Một số giải pháp về nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa tại Khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật, Trƣờng Đại học Văn hóa TP.2 Chiến lƣợc đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa.3 Giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực quản lý văn hóa. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ VĂN HÓA 1.1 Quản lý và quản lý văn hóa + Quản lý: Khi xã hội loài ngƣời ra đời, một loạt các quan hệ xã hội đƣợc hình thành nhƣ: quan hệ con ngƣời với con ngƣời, quan hệ con ngƣời với tự nhiên, quan hệ con ngƣời với xã hội và với chính bản thân. Điều này hình thành nên quan hệ quản lý trong xã hội loài ngƣời. Ngày nay, có thể thấy rằng quản lý là một nhân tố của sự phát triển xã hội.
Quản lý ra đời khi con ngƣời có tổ chức, có sự phân công lao động. Trong xã hội Nguyên thủy, con ngƣời sống thành từng bầy đàn, cũng có một ngƣời đứng đầu, quản lý và điều khiển bầy đàn. Mác coi quản lý là điều vốn có, bất biến về mặt lịch sử đời sống xã hội. Ông chỉ rõ: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động gián tiếp đƣợc thực hiện trên quy mô tƣơng đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” [39, tr.
Trong những công việc mà nhiều ngƣời hợp tác với nhau thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất phải thể hiện ra trong ý chí điều khiển và quản lý. cũng giống nhƣ trƣờng hợp một dàn nhạc. Có rất nhiều khái niệm quản lý theo các học thuyết khác nhau từ thời cổ đại đến hiện đại: Thời Xuân Thu: học thuyết Đức trị của Khổng tử (551 – 479 TCN), học thuyết Pháp trị của Hàn Phi tử (280 – 233 TCN), học thuyết quản lý hành chính của H. Fayol (1841 – 1925), học thuyết quản lý khoa học của F.
Taylor (1856 – 1915), học thuyết quản lý hành vi của G. Watson (1878 – 1918), học thuyết văn hóa quản lý (học thuyết Z) của William Ouchi. 13 Trong các khái niệm của các học giả đƣa ra có khác nhau về phƣơng pháp của từng học thuyết về quản lý, song chúng có một số dấu hiệu chung về quản lý nhƣ sau: - Hoạt động quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hoặc một nhóm ngƣời trong xã hội. - Hoạt động quản lý là những tác động có mục tiêu, định hƣớng.
- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nổ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức hoặc ngƣời đứng đầu tổ chức. - Hoạt động quản lý là hoạt động có tính tự giác của các chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý. Nhƣ vậy, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý bằng các phƣơng pháp (các học thuyết) để đạt đƣợc mục tiêu do chủ thể hoặc do tổ chức đó đề ra. Và quản lý ra đời khi con ngƣời sống có tổ chức, có xã hội.
+ Quản lý văn hóa: Quản lý văn hóa phức tạp hơn các ngành quản lý khác, bắt nguồn từ sự phức tạp của khái niệm văn hóa, nên khái niệm về quản lý văn hóa cũng mang tính phức tạp tƣơng tự. Hoạt động văn hóa là quá trình thực hiện của cá nhân vào các thiết chế văn hóa trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lƣu và tiêu dùng những giá trị văn hóa do con ngƣời sáng tạo ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lƣợng sống của con ngƣời trong xã hội. Ngay từ khi có xã hội, văn hóa đã đƣợc các thể chế chính trị quản lý bằng nhiều phƣơng thức khác nhau, xét cho cùng thì quản lý văn hóa nhằm định hƣớng, điều khiển hoạt động văn hóa theo mục tiêu của ý thức hệ do chủ thể chính trị và giai cấp cầm quyền quyết định. Quản lý văn hóa đƣợc xem là sự kết hợp giữa tri thức và sức lao động về văn hóa.
Nếu kết hợp tốt đƣợc hai yếu tố này thì văn hóa sẽ phát triển và ngƣợc lại.[30,tr 28] Quản lý văn hóa là công việc khó khăn, phức tạp và vô cùng nhạy cảm. Sự vận động của quản lý văn hóa biến đổi cùng với sự phát triển của văn hóa. 14 Quản lý văn hóa đƣợc hiểu là hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng đối với lĩnh vực văn hóa. Đó là quản lý nhà nƣớc về văn hóa.
Với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nhƣ hiện nay, quản lý văn hóa không chỉ đơn thuần là tổ chức, quản lý các hoạt động ngành nghề trên lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật mà nó còn là hoạt động thúc đẩy sự sáng tạo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong xã hội. Đồng thời quản lý văn hóa trong cơ chế thị trƣờng không chỉ chuyển tải đƣợc giá trị tinh thần mà phải mang lại giá trị kinh tế trong xã hội. Nghĩa là, làm cho văn hóa không chỉ là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, mà còn phát triển văn hóa, phát triển kinh tế. Đó là phát triển các giá trị văn hóa trong kinh doanh du lịch, phát triển văn hóa trong kinh doanh nghệ thuật, điện ảnh, sân khấu, trong lễ hội và các sự kiện.
Nói nhƣ vậy, không có nghĩa đơn thuần là kinh doanh văn hóa, thƣơng mại hóa các giá trị văn hóa mà là nâng cao giá trị của văn hóa để đạt đƣợc những mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và để tái tạo hoặc khai sáng các giá trị văn hóa mới. Một số nƣớc đã thành công trong việc tổ chức quản lý phát triển văn hóa và đạt đƣợc mục tiêu kinh tế nhƣ Hàn Quốc, Mỹ, Nhật,. Xuất phát từ vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng. Vấn đề cơ bản của quản lý văn hóa là thực thi các quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, các văn bản quản lý trong lĩnh vực văn hóa do cơ quan lập pháp ban hành để quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động văn hóa.
Đồng thời bằng việc xây dựng các văn bản pháp qui mới tƣơng thích với sự biến đổi của văn hoá, tác động có tổ chức và điều chỉnh trên cơ sở quyền lực nhà nƣớc nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công tác quản lý văn hóa. Văn hóa là sự sáng tạo trong quá trình phát triển lịch sử xã hội thì quản lý văn hóa là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý đến đối tƣợng và khách thể văn hóa nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, kiểm 15 tra, đánh giá một cách có hiệu quả các nguồn lực văn hóa (nhân lực, tài lực, vật lực.) phục vụ cho mục tiêu văn hóa. Trong Giáo trình Quản lý văn hóa ở Việt Nam của tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn, hai tác giả này cho rằng quản lý văn hóa là: “Sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phƣơng pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nƣớc, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân đƣợc trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt đƣợc mục tiêu mong muốn (bản thân văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực quản lý văn hóa + Nguồn nhân lực: Nhân lực là sức lực của con ngƣời (về tất cả các phƣơng diện: tri trức, trí tuệ, năng lực và sức khỏe…) nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động.
Nhờ sức lực đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động sáng tạo và cống hiến – con ngƣời có sức lao động. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”.993] Nhân lực là một khái niệm chỉ sự vận động, biến đổi tự nhiên về tâm sinh lý và thể chất dƣới sự tác động của môi trƣờng xã hội với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, tiến bộ. Nguồn lực con ngƣời (nguồn nhân lực) đƣợc tiếp cận ở hai khía cạnh: - Thứ nhất là nguồn gốc, nguồn phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời.
Đó cũng là sự khác biệt giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. 16 - Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện là tổng thể nguồn nhân lực của từng con ngƣời. Với tƣ cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện bởi số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Theo Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hoặc một địa phƣơng, tức nguồn lao động đƣợc chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng, bằng con đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế” [32, tr.