Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ giữ vai trò cốt lõi trong chính sách đổi mới quốc gia, đóng vai trò đòn bẩy trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến hết năm 2018, cả nước có 4.084 tổ chức đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, bao gồm 1.963 tổ chức công lập và 2.121 tổ chức ngoài công lập. Trung bình mỗi năm giai đoạn 2014-2018 có thêm trên 300 tổ chức mới được thành lập. Mặc dù sở hữu quy mô số lượng lớn, mạng lưới này đang bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả vận hành. Trong giai đoạn 2010-2014, Việt Nam chỉ ghi nhận 9.976 công bố quốc tế, xếp vị trí 59 trên thế giới và đứng sau các quốc gia khu vực như Singapore, Thái Lan và Malaysia. Đồng thời, năm 2014, chủ thể trong nước chỉ đăng ký 394 đơn sở hữu công nghiệp, chiếm 11% tổng số đơn đăng ký, trong khi tỷ lệ đơn bị từ chối lên đến 45,96%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự cồng kềnh, trùng lặp về chức năng và tình trạng đầu tư dàn trải từ ngân sách nhà nước đối với mạng lưới nghiên cứu và triển khai công lập. Mục tiêu chính của luận văn là nhận diện những khó khăn trong lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch mạng lưới, phân tích sự tương tác giữa quy hoạch hành chính với xu hướng xây dựng đại học nghiên cứu tự chủ thông qua trường hợp điển hình của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục khả thi. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập trên phạm vi toàn quốc và khảo sát sâu tại Đại học Bách khoa Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại những cơ sở khoa học xác đáng nhằm tái cấu trúc mạng lưới nghiên cứu quốc gia, tối ưu hóa các chỉ số công bố quốc tế và bảo hộ sáng chế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tái cấu trúc tổ chức của Cameron (1994), Michael Hammer và James Champy (1993, 1995) nhằm phân tích quá trình chuyển dịch cấu trúc, tinh gọn bộ máy và nâng cao năng suất của các đơn vị nghiên cứu dưới áp lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng phương pháp tiếp cận thể chế của Bạch Tân Sinh (2005) để luận giải sự tương tác giữa khuôn khổ pháp lý với hành vi của các tổ chức nghiên cứu trong môi trường tự chủ. Khung phân tích còn kết hợp mô hình đổi mới xoắn ốc để làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa viện nghiên cứu, trường đại học và khu vực doanh nghiệp.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Tổ chức khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; Tổ chức nghiên cứu và triển khai theo định nghĩa của UNESCO là hệ thống các viện, trung tâm thực hiện nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm; Mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ là tập hợp các đơn vị liên kết bằng quan hệ học thuật và pháp lý; Tái cấu trúc là hoạt động cải tiến thường xuyên để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nội bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ Báo cáo Điều tra Nghiên cứu và Phát triển năm 2018 của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, dữ liệu tiếp nhận 299.442 đơn sở hữu công nghiệp giai đoạn 2011-2019 của Cục Sở hữu trí tuệ, cùng các báo cáo tài chính và danh mục đề tài khoa học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm 2015 đến năm 2020.

Cỡ mẫu nghiên cứu thứ cấp bao gồm 1.280 tổ chức khoa học và công nghệ có hoạt động nghiên cứu phát triển trên toàn quốc (gồm 687 tổ chức nghiên cứu và phát triển, 404 trường đại học và 189 tổ chức dịch vụ). Phương pháp chọn mẫu mục đích kết hợp phân tầng được sử dụng để khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu nhóm chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hệ thống kết hợp so sánh nội quan và ngoại quan là nhằm đối chiếu khách quan giữa ý chí quy hoạch hành chính với các quy luật vận động tự nhiên của hệ thống khoa học, làm sáng tỏ mâu thuẫn giữa nhu cầu mở rộng lĩnh vực mới với cơ chế phân bổ nguồn lực cố định. Toàn bộ quy trình thu thập và xử lý số liệu được hoàn thiện trong timeline 2014-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mạng lưới tổ chức nghiên cứu và phát triển nước ta tồn tại tình trạng manh mún, phân mảnh quy mô nhân lực nghiêm trọng. Số liệu điều tra năm 2018 chỉ ra rằng có tới 54% tổ chức (371 trên 687 tổ chức) có quy mô nhân sự dưới 30 người. Nhóm đơn vị có quy mô từ 30 đến 50 người chiếm 17,18%, từ 50 đến 100 người chiếm 14,12%, trong khi các tổ chức nghiên cứu mạnh có trên 100 người chỉ chiếm tỷ lệ 14,7%.

Thứ hai, cơ cấu lĩnh vực nghiên cứu và phân bố không gian địa lý mất cân đối rõ rệt. Lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ chiếm tỷ trọng cao nhất với 28,38% (195 tổ chức), tiếp theo là khoa học xã hội với 24,02% (165 tổ chức), khoa học nông nghiệp chiếm 22,42% (154 tổ chức), trong khi khoa học y dược chỉ chiếm khiêm tốn 6,55% (45 tổ chức). Về mặt không gian, 50% tổng số tổ chức tập trung dày đặc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (riêng Thành phố Hồ Chí Minh có 201 tổ chức), tạo nên sự chênh lệch lớn so với các vùng Đồng bằng sông Hồng (95 tổ chức) hay Đồng bằng sông Cửu Long (108 tổ chức).

Thứ ba, năng lực chuyển giao và kết quả nghiên cứu ứng dụng thực tế chưa tương xứng với nguồn lực đầu tư. Năm 2014, các chủ thể nước ngoài chiếm tới 89% (3.264 đơn) trong tổng số 3.658 đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam. Tỷ lệ đơn bị từ chối của tổ chức, cá nhân trong nước là 45,96%, cao gần gấp đôi so với mức 23,38% của các đối tác nước ngoài.

Thứ tư, tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, việc sắp xếp các đơn vị nghiên cứu theo các quyết định hành chính cứng nhắc đã tạo ra rào cản cho sự phát triển của các nhóm nghiên cứu liên ngành và làm chậm quá trình thương mại hóa kết quả khoa học công nghệ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ việc các cấp quản lý chủ yếu sử dụng mệnh lệnh hành chính thuần túy để sắp xếp mạng lưới, điển hình qua Quyết định 199-CT năm 1986, Quyết định 324-CT năm 1992, Quyết định 782-TTg năm 1996 và Quyết định 171/QĐ-TTg năm 2016. Tư duy quy hoạch cố định về không gian và thời gian mâu thuẫn trực tiếp với tính bất định và sự xuất hiện liên tục của các ngành khoa học công nghệ mới. Thêm vào đó, cơ chế tài chính công vụ nặng tính bảo toàn ngân sách ngắn hạn, chưa chấp nhận rủi ro và độ trễ nghiên cứu vốn có thể kéo dài hàng thập kỷ.

Kết quả này hoàn toàn thống nhất với các công trình trước đây của Nguyễn Văn Học (2001) khi khẳng định các giải pháp hành chính hóa không thể giải quyết triệt để bài toán sắp xếp mạng lưới, đồng thời củng cố luận điểm của Phạm Bích Ngọc (2017) về tính tất yếu của việc tái cấu trúc dựa trên quyền tự chủ. Trong việc trình bày báo cáo phân tích, dữ liệu về cơ cấu quy mô nhân sự có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện phân khúc dưới 30 người chiếm 54%, và tương quan đơn đăng ký sở hữu trí tuệ nội địa (11%) so với quốc tế (89%) nên được biểu diễn bằng biểu đồ cột kép nhằm làm nổi bật khoảng cách năng lực đổi mới sáng tạo.

Đề xuất và khuyến nghị

Chuyển đổi phương thức quản lý mạng lưới từ áp đặt hành chính sang cơ chế tạo động lực tự sắp xếp, trao quyền tự chủ học thuật, tổ chức và tài chính toàn diện cho ít nhất 60% tổ chức nghiên cứu công lập trong giai đoạn 2022-2026, do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Nội vụ chủ trì thực hiện.

Tiến hành rà soát, sáp nhập hoặc chuyển đổi mô hình hoạt động đối với 371 tổ chức nghiên cứu và phát triển có quy mô dưới 30 người (hiện chiếm 54% tổng số tổ chức) vào các trường đại học định hướng nghiên cứu nhằm hình thành các trung tâm nghiên cứu liên ngành đạt chuẩn quốc tế trước năm 2025.

Xây dựng và ban hành gói chính sách ưu đãi thuế nghiên cứu và quỹ tài trợ mạo hiểm quốc gia, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đơn đăng ký sáng chế của người Việt Nam từ 11% lên trên 30% tổng số đơn tiếp nhận vào năm 2030, do Bộ Tài chính phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành lộ trình triển khai cụ thể.

Thí điểm giao quyền tự chủ tuyệt đối trong quản trị cơ sở nghiên cứu và thương mại hóa tài sản trí tuệ tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, hướng tới mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 15% số lượng bài báo quốc tế trên các tạp chí Scopus/ISI mỗi năm giai đoạn 2022-2030, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp ban giám hiệu nhà trường phê duyệt đề án.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính sử dụng các luận cứ thực chứng và thống kê về 4.084 tổ chức khoa học công nghệ để hoàn thiện quy hoạch mạng lưới quốc gia và xây dựng cơ chế phân bổ tài chính công hiệu quả.

Lãnh đạo các trường đại học định hướng nghiên cứu và khối kỹ thuật công nghệ ứng dụng các bài học kinh nghiệm từ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội để tái thiết kế cơ cấu các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm trực thuộc trường.

Giám đốc các viện nghiên cứu và doanh nghiệp khoa học công nghệ tham khảo khung lý thuyết thể chế và mô hình tự chủ để chủ động cơ cấu lại nhân sự, phát triển dịch vụ khoa học và khai thác tối đa mạng lưới hợp tác tại 21 địa bàn trọng điểm ở 12 quốc gia.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý công, Chính sách công sử dụng luận văn như tài liệu học thuật chuyên sâu về quản trị hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Khó khăn lớn nhất trong quy hoạch mạng lưới các tổ chức nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam là gì? Khó khăn cốt lõi là việc sử dụng các biện pháp hành chính áp đặt, ấn định không gian và thời gian cố định. Cách tiếp cận này đi ngược lại bản chất biến đổi nhanh chóng của các lĩnh vực khoa học công nghệ mới và triệt tiêu năng lực tự thích ứng của tổ chức.

Vì sao các quyết định quy hoạch trước đây như Quyết định 782-TTg chưa đạt hiệu quả mong đợi? Các quyết định trước đây chủ yếu sử dụng biện pháp sáp nhập cơ học mà thiếu cơ chế khuyến khích tự chủ thực chất. Tư duy bao cấp ngân sách khiến các tổ chức nghiên cứu công lập không có động lực chuyển đổi thành doanh nghiệp hoặc hội nhập thị trường.

Thực trạng quy mô nhân lực của các tổ chức nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hiện nay như thế nào? Quy mô nhân lực bị phân mảnh rất lớn với 54% đơn vị có quy mô dưới 30 cán bộ. Tỷ lệ đơn vị có quy mô từ 30 đến 50 người là 17,18%, và chỉ có 14,7% tổ chức có quy mô lớn trên 100 người.

Trường đại học nghiên cứu đóng vai trò gì trong việc tái cấu trúc mạng lưới khoa học công nghệ? Trường đại học nghiên cứu là trung tâm tích hợp giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu đỉnh cao. Điển hình như Đại học Bách khoa Hà Nội, việc gắn kết nghiên cứu với đào tạo sau đại học giúp tối ưu hóa nguồn lực và gia tăng công bố quốc tế.

Giải pháp nào giúp tăng tỷ lệ đăng ký sáng chế của các nhà khoa học trong nước? Cần chuyển đổi cơ chế cấp phát tài chính sang tài trợ theo kết quả đầu ra, đồng thời thiết lập chính sách ưu đãi thuế và cơ chế phân chia lợi nhuận thương mại hóa nhằm nâng tỷ trọng đơn sáng chế nội địa vượt mức 11% hiện tại.

Kết luận

  • Hệ thống khoa học công nghệ có quy mô 4.084 tổ chức nhưng phân mảnh nghiêm trọng khi 54% đơn vị nghiên cứu phát triển có dưới 30 cán bộ.
  • Mệnh lệnh hành chính hóa trong quy hoạch mạng lưới đã bộc lộ sự bất cập sâu sắc trước yêu cầu tự chủ và biến động công nghệ.
  • Đóng góp chính của luận văn là xây dựng hệ thống luận cứ khoa học từ mẫu 1.280 tổ chức và trường hợp điển hình Đại học Bách khoa Hà Nội.
  • Lộ trình giai đoạn 2022-2030 cần tập trung vào việc trao quyền tự chủ mở và hoàn thiện thể chế tài chính chấp nhận rủi ro khoa học.
  • Các nhà quản lý và cơ sở giáo dục đại học cần nhanh chóng hành động để chuyển hóa nghiên cứu thành động lực đột phá cho nền kinh tế tri thức.