Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trong bối cảnh hiện nay. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các trường Mầm Non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các trường Mầm Non công lập thành phố Thanh Hóa,tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục Trong tiến trình phát triển ở nhiều quốc gia, giáo dục được xem là cách để giảm thiểu rủi ro, nguy cơ cho xã hội và là con đường hữu hiệu để chống đói nghèo. Ngày nay, khi trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia thì chúng ta đều ý thức được rằng, giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Vì thế, giáo dục, đào tạo giữ vai trò trung tâm, then chốt để hội nhập và phát triển của mỗi quốc gia.
Vì vậy đã có nhiều sách lược lâu dài nhằm thúc đẩy việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực và điều kiện cho phát triển giáo dục, thực hiện sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình, xã hội. Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương được thực hiện ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ những quốc gia nghèo, kém phát triển mà ngay cả ở các quốc gia phát triển, công tác xã hội hóa giáo dục càng được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả. Tuy nhiên, qua các giai đoạn và tùy từng quốc gia, dân tộc, thuật ngữ xã hội hóa giáo dục có nhiều cách hiểu với những nội hàm ít nhiều liên quan đến các khía cạnh như: phi tập trung hóa (decentralization); giáo dục suốt đời (longlife education); xã hội học tập (learning society); giáo dục cộng đồng (comunity education). Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã phân chia dịch vụ và thương mại dịch vụ trên thế giới 12 nhóm lớn với 143 hạng mục dịch vụ.
Trong 12 nhóm thương mại dịch vụ, thì dịch vụ giáo dục thuộc nhóm thứ năm, dịch vụ nhóm này bao gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ giáo dục trong học; dịch vụ giáo dục đại học và cao đẳng; dịch vụ giáo dục cho người lớn và các dịch vụ giáo dục khác. 6 Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác đều quan tâm xây dựng và củng cố các tổ chức phục vụ trực tiếp cho việc giáo dục. Đó là các tổ chức CMHS và thầy giáo PTA (parel teachers association) với nội dung thiết thực vì chất lượng giáo dục cho thế hệ trẻ. Ấn Độ: Vấn đề huy động xã hội tham gia vào giáo dục gắn liền với vấn đề phát triển nông thôn.
Huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính quy tập trung dành cho các đối tượng học sinh bỏ học, lưu ban, không có điều kiện đi học, tương ứng với nó là các chương trình học linh hoạt… Thái Lan có nhiều hình thức huy động nguồn lực đầu tư, hỗ trợ tài chính và tài sản như các cơ quan nhà nước thu các khoản thuế giáo dục theo quy định của luật pháp để tổ chức các hoạt động giáo dục. So với các nước, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn thì tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam khá lý tưởng (khoảng 5% GDP) góp phần đem lại những thành tựu quan trọng cho giáo dục nước nhà. Để thực hiện nguyên tắc hiến định “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Luật Giáo dục qua các thời kỳ đã xác định rõ hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Trong đó, cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
Để bảo đảm tính chất “đa mục tiêu” của nền giáo dục, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước, mà cần thực hiện giải pháp “xã hội hoá”. XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, đó là bước phát triển mới của một chủ trương được thực thi từ nhiều năm qua: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” Đảng đã vận dụng sáng tạo và có hiệu quả trong công tác giáo dục và trở thành sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo dục Việt Nam. Khi Cách mạng Tháng 8/1945 mới thành công, chỉ sau một tuần lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn Độc Lập”, ngày 8/9/1945 Người đã kí sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, để thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân.
7 Đặc biệt trong lá thư cuối cùng của Bác gửi cán bộ thầy cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên dịp bắt đầu năm học mới ngày 15/10/1986 một lần nữa Bác nêu rõ: giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, cần phát huy dân chủ, đoàn kết dân tộc chặt chẽ giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó. Các ngành, các cấp phải quan tâm, chăm sóc nhà trường về mọi mặt, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của ta phát triển. (Hồ Chí Minh, 2002) Chính vì sự khẳng định đó, để thúc đẩy phát triển sự nghiện giáo dục nước nhà, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên có những chính sách, giải pháp và chủ trương XHHGD trong thời kì mới, cụ thể như: Chủ trương xã hội hóa sự nghiệp giáo dục của Đảng được thể chế hóa vào Hiến pháp 1992, tại điều 35: “…Phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập các hình thức giáo dục khác.[26] Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 chỉ rõ: Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi, các giải pháp mạnh mẽ để phát triển GD.
Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo góp phần phát triển sự nghiệp GD & ĐT. Bàn về xã hội hóa giáo dục còn có nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả Lê Khanh, Hồ Hương, Nguyễn Thanh Phong…. Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non Dưới thời kì Pháp thuộc ở Việt Nam không có giáo dục trước tuổi đi học. Cả nước chỉ có vài trại tế bần nuôi trẻ mồ côi.
Sau cách mạng tháng 8, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên ở Việt Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời. Ngày 10/9/1945, Nghị định số 5 của Bộ Cứu tế xã hội đã ghi “Khuyến khích các nhà bảo anh, dục anh, ấu trĩ viên …”. 8 Ngày 10/8/1946, Sắc lệnh số 146/SL Điều 3 đã khẳng định “Bậc học ấu trĩ nhận giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do Bộ Quốc gia giáo dục ấn định sau”. Nhằm phát triển GDMN theo tinh thần nghị quyết Trung Ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác giáo dục mầm non.
Hội nghị nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục mầm non, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non. Ngày 15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non. Điều 1 đã khẳng định nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non đến năm 2010 : “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư …” đi cùng Quyết định là Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT-BNV- BTC hướng dẫn một số chính sách phát triển giáo dục mầm non, trong đó đã chỉ rõ các bước của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện xã hội hóa với giáo dục mầm non.[18] GDMN là sự thể hiện sinh động nguyên tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm. Nhìn vào các hình thức GDMN có thể khẳng định đây là bậc học được xã hội hóa cao hơn bất kì bậc học nào.
Song việc nghiên cứu về vấn đề XHHGDMN còn hạn chế. Năm 2001, Viện khoa học giáo dục ra đời cuốn “Xã hội hóa giáo dục” đề cập một cách hết sức khái quát đến một điểm xuất phát của việc định hình XHHGDMN và vận dụng phương thức xã hội trong hoạt động GDMN. Đồng thời khẳng định sự tham gia của xã hội với nhiều hình thức đóng góp là thực sự cần thiết để phát triển Giáo dục.[42] Trên thực tế, một số đề tài nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục mầm non có thể kể đến như: Tác giả Hồ Thiệu Hùng (2009) trong bài viết: “Để GDMN vững bước trên con đường XHH” cho biết: Muốn XHH GDMN thành công thì phải thực 9 hiện đồng bộ các phương pháp quản lý công tác này từ nhiều phía: Nhà nước (từ trung ương đến địa phương), các tổ chức kinh tế - xã hội, người dân, gia đình và bản thân ngành giáo dục. Ngoài ra còn có nhiều bài viết về xã hội hóa giáo dục mầm các tác giả ở các địa phương trong nước, đã cung cấp nhiều tư liệu và bài học kinh nghiệm quý giá, làm cơ sở định hình quan điểm về XHHGDMN và quan trọng là để vận dụng vào thực tiễn.
Mỗi bài viết, nghiên cứu đều đưa ra được quan điểm cá nhân và một số biện pháp nhằm phát triển XHH GDMN có hiệu quả. Luận văn này cố gắng tổng kết từ thực tiễn XHH GDMN ở Thành phố Thanh Hóa nói chung và các trường mầm non công lập nói riêng, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động vấn đề này hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục Giáo dục được hiểu là quá trình nhằm hình thành, phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người dạy học và người học nhằm để người học lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ trong lịch sử.