Quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non trên địa bàn thị xã tân uyên tỉnh bình dương

Tài liệu nghiên cứu Quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở các trường mầm non trên địa bàn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

170
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nền tảng quản lý hoạt động tự đánh giá chất lượng mầm non

Quản lý hoạt động tự đánh giá là một nhiệm vụ trọng tâm trong quy trình kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non. Đây không chỉ là một yêu cầu pháp lý mà còn là cơ hội để các nhà trường tự soi chiếu, nhận diện điểm mạnh và điểm yếu, từ đó xây dựng kế hoạch cải tiến phù hợp. Tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, công tác này ngày càng được chú trọng nhằm nâng cao toàn diện chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Hoạt động tự đánh giá là khâu đầu tiên, mang tính quyết định trong toàn bộ quy trình kiểm định chất lượng giáo dục. Nó thể hiện tính tự chủ và trách nhiệm của nhà trường, giúp xác định mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá trường mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Một quy trình quản lý hiệu quả sẽ huy động được sức mạnh tập thể, từ Ban Giám hiệu đến từng giáo viên, nhân viên, tạo ra một bức tranh toàn cảnh và trung thực về thực trạng của đơn vị. Kết quả của quá trình này là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng báo cáo tự đánh giá trường mầm non và chuẩn bị cho hoạt động đánh giá ngoài trường mầm non.

1.1. Mục tiêu của kiểm định chất lượng giáo dục mầm non

Mục tiêu cốt lõi của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằm xác định mức độ nhà trường đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn. Hoạt động này giúp các cơ sở giáo dục mầm non tại Tân Uyên cải tiến và nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Đồng thời, kết quả kiểm định còn để giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng của nhà trường. Theo chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, việc “thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học” là một định hướng quan trọng, được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 29-NQ/TW. Việc này không chỉ đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non mà còn tạo động lực cho các trường không ngừng phấn đấu, hoàn thiện.

1.2. Vai trò cốt lõi của hoạt động tự đánh giá trong quy trình

Tự đánh giá là hoạt động tự xem xét, đối chiếu với các tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, cụ thể là Thông tư 19/2018/TT-BGDĐT (hoặc Thông tư 25/2014/TT-BGDĐT được đề cập trong tài liệu gốc). Quá trình này giúp nhà trường nhìn nhận rõ ràng thực trạng, từ cơ sở vật chất, đội ngũ đến chương trình giáo dục. Đây là cơ sở để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng sau tự đánh giá, khắc phục các tồn tại và phát huy thế mạnh. Nếu không có bước tự đánh giá kỹ lưỡng, hoạt động đánh giá ngoài sẽ gặp nhiều khó khăn và kết quả kiểm định cuối cùng có thể không phản ánh đúng thực chất, làm giảm ý nghĩa của toàn bộ quy trình.

II. Những thách thức trong quản lý tự đánh giá mầm non Tân Uyên

Mặc dù tầm quan trọng của tự đánh giá đã được khẳng định, thực tiễn triển khai tại các trường mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn. Những thách thức này đến từ cả yếu tố chủ quan và khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tiến độ của công tác kiểm định. Một trong những rào cản lớn nhất xuất phát từ nhận thức của đội ngũ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Trang (2018), một bộ phận cán bộ, giáo viên vẫn xem đây là công việc mang tính hình thức, tạo thêm gánh nặng hành chính. Bên cạnh đó, năng lực chuyên môn để thực hiện quy trình phức tạp như thu thập minh chứng kiểm định và phân tích tiêu chí còn hạn chế. Công tác quản lý của hiệu trưởng đóng vai trò then chốt nhưng đôi khi chưa thực sự quyết liệt, thiếu các biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc kịp thời. Việc thiếu một kế hoạch chi tiết, phân công không rõ ràng khiến quá trình triển khai trở nên lúng túng, chồng chéo và kém hiệu quả, dẫn đến chất lượng hồ sơ kiểm định chất lượng chưa cao.

2.1. Hạn chế về nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên

Khảo sát thực tế tại Tân Uyên cho thấy, không phải tất cả cán bộ quản lý và giáo viên đều nhận thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa của tự đánh giá. Nhiều người vẫn coi đây là nhiệm vụ của cấp trên giao phó, thực hiện vì mục tiêu được công nhận thay vì xem nó là cơ hội để cải tiến chất lượng thực sự. Sự nhầm lẫn giữa công tác tự đánh giá với các hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ cũng là một vấn đề. Điều này làm giảm tính chủ động, sáng tạo và sự tham gia tích cực của tập thể, biến quá trình tự đánh giá thành công việc của một vài cá nhân trong hội đồng tự đánh giá.

2.2. Khó khăn trong quy trình thu thập và xử lý minh chứng

Thu thập minh chứng là công đoạn tốn nhiều thời gian và công sức nhất. Năng lực tập hợp, tìm kiếm và hệ thống hóa minh chứng của nhiều giáo viên còn yếu. Hồ sơ, sổ sách đôi khi được lưu trữ không khoa học, gây khó khăn cho việc truy xuất. Việc xác định minh chứng nào là phù hợp, có giá trị cho từng chỉ số, tiêu chí cũng là một thách thức lớn. Thực trạng này dẫn đến việc hồ sơ kiểm định chất lượng bị thiếu, minh chứng không đủ sức thuyết phục, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đánh giá cuối cùng của nhà trường.

III. Phương pháp xây dựng kế hoạch tự đánh giá mầm non chi tiết

Để vượt qua các thách thức, một kế hoạch tự đánh giá chi tiết và khoa học là yếu tố tiên quyết. Kế hoạch không chỉ là một văn bản định hướng mà còn là công cụ điều phối, quản lý toàn bộ hoạt động. Công tác quản lý của hiệu trưởng thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn này. Một kế hoạch tốt phải xác định rõ mục đích, phạm vi, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên và dự kiến các nguồn lực cần thiết. Việc thành lập Hội đồng tự đánh giá là bước đi đầu tiên, trong đó cơ cấu thành viên phải hợp lý, bao gồm đại diện Ban Giám hiệu, các tổ trưởng chuyên môn và giáo viên nòng cốt. Hội đồng này sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc điều hành, từ việc nghiên cứu các tiêu chuẩn đánh giá trường mầm non đến việc chỉ đạo thu thập thông tin. Quá trình lập kế hoạch cần bám sát các hướng dẫn của ngành, đặc biệt là các quy định trong các thông tư hiện hành, đảm bảo tính pháp lý và thực tiễn cho mọi hoạt động sẽ triển khai sau đó.

3.1. Thành lập và vận hành Hội đồng tự đánh giá chuyên nghiệp

Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Hội đồng tự đánh giá, bao gồm Chủ tịch (Hiệu trưởng), Phó Chủ tịch, thư ký và các thành viên. Việc phân công nhiệm vụ trong hội đồng phải dựa trên năng lực và vị trí công tác của từng người. Cần tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu cho thành viên hội đồng về quy trình kiểm định chất lượng giáo dục, cách phân tích tiêu chí và kỹ năng thu thập minh chứng. Hội đồng cần xây dựng quy chế làm việc rõ ràng, tổ chức các cuộc họp định kỳ để rà soát tiến độ, tháo gỡ khó khăn và thống nhất hướng đi, đảm bảo hoạt động diễn ra đồng bộ và hiệu quả.

3.2. Xây dựng lịch trình và phân công nhiệm vụ cụ thể

Kế hoạch phải có một lịch trình thực hiện chi tiết cho từng công việc: thời gian nghiên cứu tiêu chuẩn, thời gian thu thập minh chứng cho từng lĩnh vực, thời gian viết phiếu đánh giá tiêu chí, thời gian hoàn thành dự thảo báo cáo tự đánh giá trường mầm non. Mỗi nhiệm vụ cần được giao cho một cá nhân hoặc một nhóm công tác cụ thể chịu trách nhiệm. Sự phân công rõ ràng giúp tránh tình trạng đùn đẩy, chồng chéo và đảm bảo mọi thành viên trong trường đều tham gia vào quá trình, nâng cao ý thức trách nhiệm chung.

IV. Hướng dẫn thu thập minh chứng và viết báo cáo tự đánh giá

Sau khi có kế hoạch, giai đoạn thực thi là lúc biến các mục tiêu trên giấy thành hiện thực. Quá trình này đòi hỏi sự chỉ đạo sát sao và kỹ năng chuyên môn cao, đặc biệt trong việc thu thập minh chứng kiểm định và tổng hợp thành báo cáo tự đánh giá trường mầm non. Minh chứng là bằng chứng vật chất chứng minh cho các nhận định của nhà trường. Chúng phải đảm bảo tính xác thực, đầy đủ và phù hợp với yêu cầu của từng chỉ số. Quá trình này không chỉ đơn thuần là tập hợp giấy tờ, mà còn bao gồm việc quan sát, phỏng vấn, khảo sát để có thông tin đa chiều. Sau khi thu thập, các thông tin, minh chứng cần được mã hóa, sắp xếp khoa học vào hồ sơ kiểm định chất lượng. Cuối cùng, việc viết báo cáo là công đoạn tổng hợp tất cả kết quả, phân tích điểm mạnh, điểm yếu và đề ra kế hoạch cải tiến. Đây là sản phẩm trí tuệ tập thể, phản ánh chân thực nhất bộ mặt của nhà trường.

4.1. Kỹ thuật thu thập mã hóa và sắp xếp minh chứng hiệu quả

Mỗi nhóm công tác cần lập danh mục các minh chứng cần thu thập tương ứng với các tiêu chí được phân công. Minh chứng có thể là các văn bản, quyết định, kế hoạch, hình ảnh, video hoạt động, sản phẩm của trẻ, phiếu khảo sát... Sau khi thu thập, cần tiến hành mã hóa theo quy ước thống nhất (ví dụ: [H1.1.1] là minh chứng cho Tiêu chuẩn 1, Tiêu chí 1.1, Chỉ số 1.1.a). Việc sắp xếp minh chứng vào các hộp, cặp file theo thứ tự mã hóa giúp việc tra cứu khi viết báo cáo và phục vụ đoàn đánh giá ngoài trường mầm non trở nên dễ dàng, chuyên nghiệp.

4.2. Quy trình viết báo cáo tự đánh giá và lấy ý kiến góp ý

Báo cáo tự đánh giá cần được viết dựa trên các phiếu đánh giá tiêu chí đã được hội đồng thông qua. Cấu trúc báo cáo phải tuân thủ theo mẫu quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nội dung cần ngắn gọn, rõ ràng, mô tả đúng hiện trạng, đưa ra nhận định khách quan, chỉ rõ điểm mạnh, điểm yếu. Đặc biệt, phần kế hoạch cải tiến chất lượng sau tự đánh giá phải có các biện pháp cụ thể, khả thi. Sau khi hoàn thành dự thảo, báo cáo cần được công bố công khai trong nội bộ nhà trường để lấy ý kiến góp ý của toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trước khi ban hành chính thức.

V. Thực trạng và giải pháp quản lý tự đánh giá tại Tân Uyên

Nghiên cứu thực trạng tại thị xã Tân Uyên cho thấy công tác quản lý hoạt động tự đánh giá đã có những chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều điểm cần cải thiện. Nhiều trường đã thành lập được Hội đồng tự đánh giá và xây dựng kế hoạch tự đánh giá ban đầu. Tuy nhiên, việc triển khai còn mang tính đối phó ở một số nơi. vai trò chỉ đạo của một số hiệu trưởng chưa thực sự sâu sát. Sự phối hợp giữa các thành viên, các nhóm công tác còn lỏng lẻo. Để nâng cao hiệu quả, phòng giáo dục và đào tạo Tân Uyên cần tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán. Về phía nhà trường, cần nâng cao nhận thức cho toàn thể đội ngũ, xem tự đánh giá là hoạt động thường xuyên để đảm bảo chất lượng giáo dục mầm non. Đồng thời, cần có cơ chế động viên, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể làm tốt, tạo động lực thúc đẩy quá trình này.

5.1. Đánh giá chung về công tác quản lý của hiệu trưởng

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng báo cáo tự đánh giá. Thực tế cho thấy, ở những trường mà hiệu trưởng thực sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, sâu sát, có kế hoạch cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc thì hoạt động tự đánh giá diễn ra thuận lợi và đạt kết quả tốt. Ngược lại, nơi nào hiệu trưởng giao khoán cho cấp phó hoặc một nhóm nhỏ, chất lượng và tiến độ công việc thường bị ảnh hưởng. Do đó, nâng cao năng lực quản lý và vai trò của hiệu trưởng là giải pháp then chốt để cải thiện công tác này tại Tân Uyên.

5.2. Đề xuất các biện pháp cải tiến chất lượng sau tự đánh giá

Kết quả tự đánh giá chỉ thực sự có ý nghĩa khi nhà trường xây dựng và thực hiện được các biện pháp cải tiến chất lượng. Dựa trên những điểm yếu đã xác định, nhà trường cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể: cần bổ sung trang thiết bị gì, cần bồi dưỡng chuyên môn nào cho giáo viên, cần điều chỉnh hoạt động chăm sóc trẻ ra sao... Kế hoạch này phải được tích hợp vào kế hoạch năm học của trường, có sự phân công người thực hiện, thời gian hoàn thành và nguồn lực đảm bảo. Phòng giáo dục và đào tạo Tân Uyên cần theo dõi, hỗ trợ các trường trong quá trình thực hiện các kế hoạch cải tiến này.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Nội dung, gồm có 3 chƣơng: + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục trƣờng mầm non. + Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục Trƣờng Mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. + Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở Trƣờng Mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. Kết luận và khuyến nghị.

Tài liệu tham khảo. Phụ lục 7 HƢƠNG 1 Ơ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG IỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Nước ngoài Kiểm định chất lƣợng giáo dục là một trong những hoạt động đảm bảo chất lƣợng bên ngoài các cơ sở giáo dục, kiểm định chất lƣợng giáo dục đã có từ rất lâu đời nhƣng chủ yếu ở Hoa Kỳ, Bắc Mỹ; tuy nhiên, ít đƣợc các nƣớc trên thế giới biết đến.Trong quá trình phi tập trung hoá và đại chúng hoá nền giáo dục, các chuẩn mực giáo dục đã bị thay đổi giữa các cơ sở giáo dục khá cao nhƣ chất lƣợng tuyển sinh đầu vào hạ thấp, quy mô cơ sở tăng nhanh, nhƣng tài chính tăng chậm, có nhiều yếu tố tiêu cực bên ngoài tác động vào các cơ sở giáo dục.

Đặc biệt, nền giáo dục của thế giới đang dần chuyển từ nền giáo dục theo định hƣớng của Nhà nƣớc sang nền giáo dục theo định hƣớng của thị trƣờng. Trong bối cảnh đó, kiểm định chất lƣợng trở thành một công cụ hữu hiệu của nhiều nƣớc trên thế giới để duy trì các chuẩn mực chất lƣợng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lƣợng dạy học. Nguyễn Thị Thanh Phƣợng (2005) với luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục “Xác nhận lại kiểm định chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng giáo dục nhƣ một cuộc hành trình: Một nghiên cứu điển hình” (Reaffirmation of accreditation and quality improvement as a journey: A case study) tại Đại học Texas của Mỹ. Luận án đã đi sâu vào phân tích khá kỹ về công tác kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học của Mỹ hiện nay, bao gồm các chính sách, chủ trƣơng, cơ chế cũng nhƣ quy trình thủ tục, phƣơng pháp, nội dung, chuẩn mực trong kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học của Mỹ.

Đặc biệt, luận án đã phân tích quá trình thực hiện báo cáo tự đánh giá của nhà trƣờng là một quá trình thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lƣợng trong nhà trƣờng. Trong nghiên cứu này đã chỉ rõ quá trình tự đánh giá là khâu đầu tiên và rất quan trọng trong quá trình 8 kiểm định.Nhóm các tác giả Janet Fairman, Brendra Peirce and Walter Harris (2009) cũng đã trình bày rất kỹ về kỹ thuật đánh giá ngoài.Theo nhóm tác giả này, những thành viên đoàn đánh giá ngoài là những ngƣời có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và họ cũng là những ngƣời đến từ các cơ sở giáo dục phổ thông khác.Tuy nhiên, những thành viên đánh giá ngoài này đƣợc các tổ chức kiểm định đào tạo các khóa ngắn hạn về kiểm định, về cách đánh giá nhà trƣờng qua báo cáo tự đánh giá.Đặc biệt, trong công trình này đã nêu lên đƣợc sự trở ngại khi điều động các thành viên từ các cơ sở giáo dục khác nhau.Ngoài ra, công trình này cũng đã chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý về đào tạo bồi dƣỡng kiểm định viên. Nhiều quốc gia trong quá trình đánh giá các trƣờng học, họ thực hiện công tác KĐCLGD để xác nhận và công nhận chất lƣợng dạy và học của các nhà trƣờng nhƣ: Nhật Bản, Hàn Quốc,.các hiệp hội KĐCLGD ở các nƣớc này đã xây dựng bộ tiêu chuẩn, tiêu chí để công nhận mức độ đạt chuẩn của các nhà trƣờng so với chuẩn quy định. Việt Nam Ở Việt Nam, kiểm định chất lƣợng giáo dục là vấn đề khá mới, và đƣợc triển khai từ đầu thế kỷ XXI.

Mô hình này đƣợc xây dựng trên cơ sở tham khảo dựa trên mô hình bảo đảm chất lƣợng giáo dục ở các nƣớc có nền giáo dục phát triển trên thế giới nhƣ Hoa Kỳ, các nƣớc Bắc Mỹ, các nƣớc Châu Âu, các nƣớc trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng. Tuy mới nhƣng công tác kiểm định chất lƣợng giáo dục ở nƣớc ta đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm nhƣ: Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, báo cáo chính trị chỉ r “Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lƣợng giáo dục đào tạo; tổ chức xếp hạng cơ sở giáo dục, đào tạo”; cũng tại Đại hội này, Đảng ta đã thông qua chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn năm 2011 – 2020, trong đó đã chỉ r “Thực hiện kiểm định chất lƣợng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học”. Cùng với sự phát triển của xã hội, ngành giáo dục của Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn loại hình đào tạo; vì vậy, vấn đề chất lƣợng giáo dục cũng đƣợc quan tâm ngày càng nhiểu hơn.Trong thời gian qua, ở 9 nƣớc ta đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, nhà nghiên cứu giáo dục…đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này; nhƣng đề tài nghiên cứu kiểm định chất lƣợng giáo dục chủ yếu tập trung ở các trƣờng đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề…;tiêu biểu có một số tác giả nhƣ Nguyễn Đức Chính, Đặng Bá Lãm… .Ở hệ thống giáo dục phổ thông cũng có những tác giả nghiên cứu và thành công trong lĩnh vực kiểm định chất lƣợng giáo dục nhƣ Nguyễn Trọng Thắng, Phan Thanh Nhuận…, hay ở bậc học mầm non có tác giả Vũ Thị Hồng Hạnh – Thái Nguyên (2015), Nguyễn Thị Thanh Tú – Đà Nẵng (2015)…Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu của các tác giả trên chủ yếu đề cập đến những vấn đề cơ sở khoa học lý luận chung cho công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng, đề tài nghiên cứu về công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở các trƣờng mầm non rất ít, hoặc có thể nói là chƣa có, đặc biệt là ở thị xã Tân Uyên chƣa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này.

Vì vậy, đề tài “Quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng” là đề tài đầu tiên nghiên cứu về công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục mầm non, mong rằng với sự thành công của đề tài sẽ góp phần giúp các nhà quản lý nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công tác tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục của các trƣờng mầm non trên địa bàn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm về quản lý Từ khi loài ngƣời xuất hiện, để tồn tại và phát triển, con ngƣời không thể hoạt động riêng lẻ mà cần hợp tác với nhau để hƣớng tới mục tiêu chung. Hợp tác này dẫn đến sự hình thành các tổ chức, liên kết con ngƣời cùng hoạt động theo một định hƣớng với những mục tiêu xác định.

Quá trình tạo ra của cải vật chất, tinh thần cũng nhƣ đảm bảo cuộc sống an toàn cho cộng đồng xã hội ngày càng đƣợc thực hiện trên qui mô lớn hơn với tính phức tạp ngày càng cao hơn, đòi hỏi phải có sự phân công và hợp tác để liên kết những con ngƣời trong tổ chức. 10 Chính sự phân công mang tính chuyên môn hóa và hợp tác lao động đã làm xuất hiện một dạng lao động đặc biệt- lao động quản lý. Các Mác (1997) đã chỉ r : “Bất cứ một lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt đông cá nhân… Một nghệ sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhƣng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng”. Nhƣ vậy, quản lý là một tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội, bất kể hình thái kinh tế - xã hội nào.

Quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động trong xã hội, từ mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ một gia đình, một đơn vị dân cƣ đến một quốc gia và những hoạt động trên phạm vi khu vực toàn cầu. Theo tác giả Nguyễn Đức Lợi (2008): “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trƣờng luôn biến động”. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí (1996) quan niệm: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”. Tác giả Trần Kiểm (2013) lại cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.

Từ các khái niệm trên ta thấy rằng quản lý phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tƣợng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý. Phải có mục tiêu đặt ra cho cả đối tƣợng quản lý và chủ thể quản lý. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý đƣa ra tác động quản lý. Quản lý là một quá trình tác động có định hƣớng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực 11 bên trong và bên ngoài, trong điều kiện môi trƣờng luôn có biến động cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hƣớng phát triển tích cực, đạt đƣợc mục tiêu đề ra.

Tóm lại, có thể xem quản lý là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ