Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động truyền thông thương hiệu 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Thương hiệu Trong hoạt động marketing, thương hiệu được xem là một trong những công cụ quan trọng, bởi vì nghiên cứu và phát triển thương hiệu chính là mục tiêu mà những nhà marketing sử dụng để truyền tải về giá trị, lợi ích cũng như các cam kết về sản phẩm, dịch vụ của mình tới khách hàng của mình.
Theo Hiệp hội Marketing Mỹ: “Thương hiệu là tên, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng hay kiểu dáng hoặc một sự kết hợp những yếu tố đó nhằm xác nhận sản phẩm của một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”; Theo Philip Kotler: “Thương hiệu (brand) có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”1. Các quan điểm trên cho rằng thương hiệu là một thành phần của sản phẩm, chức năng chính của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác. Theo Larry Light: “Thương hiệu không chỉ là một yếu tố cấu thành nên một sản phẩm, không chỉ bao gồm tên, thuật ngữ, ký hiệu, biểu tượng hay kiểu dáng hoặc một sự kết hợp những yếu tố đó mà quan trọng hơn là những cam kết hay lời hứa của nhà cung cấp đối với khách hàng thông qua những liên tưởng và ý nghĩa kèm theo mà một thương hiệu truyền tải đến khách hàng mục tiêu”. Như vậy, ngoài những nội dung như đã nêu ở các khái niệm trên, thương hiệu còn thể hiện rõ cam kết với khách hàng.
1 Philip Kotler (1995), Marketing. 5 Theo Tim Ambler và Chris Styles: “Thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị lợi ích mà họ tìm kiếm”. Theo định nghĩa này thì sản phẩm lại được coi là một thành phần của thương hiệu, có chức năng chủ yếu là cung cấp “giá trị lợi ích tiêu dùng” cho khách hàng. Còn thương hiệu có chức năng cung cấp các “giá trị lợi ích tinh thần” mang đến cho khách hàng thông qua việc khai thác những ưu thế có từ thương hiệu.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay, thuật ngữ thương hiệu chưa được sử dụng mà chỉ có các thuật ngữ liên quan đến thương hiệu như: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp. Có thể định nghĩa thương hiệu một cách tương đối như sau: “Thương hiệu, trước hết là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong marketing; là hình tượng về một cơ sở sản xuất, kinh doanh (gọi tắt là doanh nghiệp) hoặc hình tượng về một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ; là tập hợp các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp khác”. Việc làm rõ khái niệm thương hiệu cùng với việc xác định các yếu tố cấu thành nên thương hiệu có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu, xây dựng chiến lược thương hiệu của mọi doanh nghiệp hiện nay nói chung và trong hoạt động truyền thông thương hiệu nói riêng. Truyền thông Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Truyền thông là sự luân chuyển thông tin và hiểu biết từ người này sang người khác thông qua các ký tín hiệu có ý nghĩa.
Truyền thông không chỉ là quá trình chia sẻ thông tin. Các quá trình truyền thông phần lớn các trường hợp là các tương tác bằng dấu hiệu được trung gian hòa giải. Ba mức độ quy tắc tín hiệu học thống trị các quá trình truyền thông là: cú pháp, thực dụng và ngữ nghĩa. Thế nên, truyền thông 6 là phần nào một loại tương tác xã giao có ít nhất hai tác nhân làm việc tương tác cùng chia sẻ chung một bộ các ký hiệu và chung một quy tắc tín hiệu học”.
Như vậy, phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ. Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức và mục tiêu. Người Mã Giải Người gửi hóa Thông mã nhận điệp Phương tiện truyền thông Nhiễu Liên hệ ngược Phản ứng đáp lại Hình 1. Các phần tử trong quá trình truyền thông Theo Philip Kotler, quá trình truyền thông bao gồm 09 phần tử2 có chức năng và mối liên hệ tương tác (theo hình 1.1), bao gồm: Người gửi (1) và người nhận (2): Là hai phần tử chủ yếu tham gia truyền thông.
Người gửi là cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu truyền thông điệp; Thông điệp (3) và phương tiện truyền thông (4): Là những công cụ truyền thông chủ yếu; Bốn phần từ còn lại, bao gồm: Mã hóa (5), giải mã (6), phản ứng đáp lại (7) và liên hệ ngược (8) là những chức năng truyền thông chủ yếu; Nhiễu (9): Là phần tử cuối cùng. Mô hình này nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong hệ thống truyền thông có hiệu quả. Người gửi phải biết mình muốn truyền đạt thông tin đến công chúng nào và muốn có phản ứng đáp lại như thế nào. Họ mã hóa thông 2 Philip Kotler, Quản trị Marketing, trang 674 (xem phần Tài liệu tham khảo).
7 điệp của mình theo cách có tính đến quá trình giải mã thông điệp thông thường của công chúng mục tiêu. Họ phải tạo những kênh liên hệ ngược để có thể biết phản ứng đáp lại của người nhận đối với thông điệp đó. Để đảm bảo thông điệp có hiệu quả, quá trình mã hóa của người gửi phải ăn khớp với với quá trình giải mã của người nhận. Thông điệp về cơ bản phải là những tín hiệu quen thuộc đối với người nhận thông điệp thì càng hiệu quả.
Quá trình này chịu ảnh hưởng sự hiểu biết của người nhận, bao gồm kinh nghiệm, trình độ nhận thức, tâm lý. Người gửi và người nhận càng hiểu biết rõ về nhau, càng có nhiều thông tin. Thông điệp ban đầu từ người gửi truyền cho người nhận được mã hóa bằng ngôn từ, hình ảnh, biểu tượng, thái độ, cử chỉ… Sau khi người nhận tiếp nhận và giải mã thông điệp, chính họ cũng sẽ tạo ra thông điệp mới, tác động trở lại người gửi. Thông điệp đáp lại này giúp người gửi biết được hiệu quả truyền thông của mình đã đạt được đến mức nào.
Có khi người nhận nắm rõ toàn bộ thông điệp và phản hồi tích cực, nhưng có khi họ chẳng giữ lại gì cả. Việc nắm bắt thông tin về từng thông điệp đã nhận hay chưa, thông điệp nào đã được tiếp nhận và tiếp nhận đến mức nào là công việc hết sức quan trọng trong hoạt động truyền thông. Nhiệm vụ của người gửi là đưa được thông tin đến người nhận. Trong một môi trường có rất nhiều nhiễu vì người ta bị tác động của hàng trăm thông điệp thương mại mỗi ngày, công chúng mục tiêu có thể không nhận được thông điệp gửi đến bởi một trong những lý do khác nhau, một trong những lý do là sự chú ý mang tính chọn lọc nghĩa là công chúng mục tiêu sẽ chỉ nhớ được một phần nhỏ thông điệp truyền đến họ.
Vì vậy, sau khi lựa chọn được công chúng mục tiêu, một trong những vấn đề cơ bản của truyền thông là thiết kế thông điệp phù hợp và lựa chọn phương tiện truyền thông một cách hợp lý. Truyền thông thương hiệu Trong xu thế phát triển của xã hội, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp 8 thì truyền thông thương hiệu là phần rất quan trọng cho sự thành công của một doanh nghiệp trong chiến lược Truyền thông PR. Truyền thông thương hiệu là phương pháp, cách thức để đem thương hiệu tiếp cận tới khách hàng, giúp khách hàng có thể nhận biết thương hiệu của doanh nghiệp đó. Truyền thông thương hiệu chính là quá trình thực hiện các hoạt động giới thiệu, quảng bá cho thương hiệu thông qua các dấu hiệu nhận biết về thương hiệu, sản phẩm và dịch vụ, hàng hóa của doanh nghiệp đó.
Thông qua hoạt động này sẽ tạo dựng được niềm tin về quan điểm, hành vi của khách hàng theo hướng có lợi cho doanh nghiệp. Đây cũng là một phần nhỏ trong lĩnh vực marketing. Từ đây sẽ có 2 nhóm thương hiệu là thương hiệu cá nhân và thương hiệu tổ chức, hàng hóa. Tất cả các ngành nghề trong lĩnh vực truyền thông đều sẽ được áp dụng vào trong chiến lược truyền thông thương hiệu.
Truyền thông thương hiệu là một quá trình truyền thông, trong đó thông tin về thương hiệu được trao đổi, chuyển tải tới các đối tượng của truyền thông. Thông tin về thương hiệu là các thông tin về tên gọi, logo, hệ thống nhận diện thương hiệu và các thông tin hỗ trợ như giới thiệu quảng bá thêm về thương hiệu của tổ chức. Đối với hoạt động marketing hỗn hợp, truyền thông thương hiệu là mộ bộ phận của hoạt động xúc tiến (promotion), là một công cụ quan trọng trong hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu của tổ chức. Quản lý truyền thông thương hiệu Quản lý truyền thông là khoa học áp dụng các giải pháp quản lý liên quan đến lĩnh vực thông tin và truyền thông của doanh nghiệp.
Bản chất của quản trị truyền thông là chuỗi các hành động được hoạch định có chủ ý để cải thiện cái nhìn của khách hàng về một doanh nghiệp, triển khai phát hành thông tin tới giới truyền thông và lôi kéo sự chú ý của họ. Doanh nghiệp thực 9 hiện truyền thông phải có khả năng thuyết phục, biết cách tạo sức ảnh hưởng của thương hiệu đến công chúng. Và mặc dù hiệu quả đạt được không dễ đo lường, nhưng việc tạo ra hình ảnh riêng và tăng thiện ý từ phía khách hàng, công chúng là những kết quả cuối cùng mà thương hiệu của bạn mong đợi. Quản lý truyền thông thương hiệu là một chức năng quản trị nhằm mục đích thiết lập, duy trì truyền thông, đi tìm sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và công chúng liên quan đến thương hiệu của doanh nghiệp.
Quản lý truyền thông thương hiệu vừa là khoa học xã hội vừa là nghệ thuật. Khoa học được hiểu là người làm truyền thông thương hiệu cần phải có những phương pháp và công cụ thực hiện truyền thông thương hiệu hiệu quả. Sử dụng linh hoạt, tài tình các giải pháp truyền thông thương hiệu khác nhau cho từng đối tượng truyền thông (bên trong, bên ngoài) để đạt được mục tiêu như mong đợi là cả một nghệ thuật.