Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học cơ sở theo tiếp cận phối hợp. Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận phối hợp. Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo tiếp cận phối hợp và khảo nghiệm. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN PHỐI HỢP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cho học sinh Theo UNESCO, sự đánh giá dựa trên việc kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai chính là những đòi hỏi của hướng nghiệp. M i học sinh cần phải được nhà trường vẽ lên một bức tranh rõ nhất về khả năng của mình. Vì vậy, những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn là rất cần thiết và quan trọng để giúp HS lựa chọn nghề thích hợp, dự báo những khó khăn trong học tập và giải quyết những vấn đề xã hội khi cần.
Trong công trình khoa học “ ột số vấn đ v quản l giáo dục ở Australia” Allan Walker đã chỉ ra rằng: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lí thuyết, mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng gỉữa các HS, làm cho HS vừa có kĩ năng lao động vừa có tri thức” 1]. Tác giả Magumi Nishino - thuộc Viện Nghiên cứu Giáo dục Nhật Bản cho rằng HS trung học phải được bồi dưỡng kĩ năng lao động cơ bản của ngành nghề: “Bồi dưỡng trí thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với m i cá nhân” [24]. Tại Nhật Bản, số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kĩ thuật về các lĩnh vực cơ khí, công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, dịch vụ. Hầu hết các loại hình trường dạy nghề đồng thời cũng cung cấp học vấn phổ thông tương đương bậc trung học với việc đào tạo các kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp chuyên môn.
7 Xôcrát (470 - 399 TCN), nhà triết học Hy Lạp nổi tiếng cho rằng: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Quan điểm này được coi là khởi nguồn của Giáo dục trải nghiệm. Nhà giáo dục người Nga N.Cơrupxkaia (1869 – 1939) cho rằng: “Qua hoạt động thực tiễn thế hệ trẻ được tự giáo dục, qua đó mà hình thành và phát triển nhân cách của người lao động mai sau”. Quan điểm này đã thể hiện vai trò và ý nghĩa của lao động, hoạt động xã hội trong việc hình thành nhân cách của người học.
Sang đầu thế kỷ 20 có nhiều tác giả nổi trên thế giới đã xây dựng các học thuyết trải nghiệm học tập (Experiential Learning Theory (ELT)), như: William James, John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, Carl … những người đặt trải nghiệm là trung tâm của quá trình học tập, hình dung một hệ thống giáo dục với người học là trung tâm. ELT là một cái nhìn năng động của việc học dựa trên một chu trình học tập được thúc đẩy bởi sự giải quyết của các mặt là: hành động / sự phản chiếu và kinh nghiệm / trừu tượng. Đó là một lý thuyết toàn diện xác định việc học là quá trình chính của sự thích ứng con người liên quan đến toàn thể con người [31]. Như vậy, các học giả trên thế giới đều cho rằng hoạt động trải nghiệm là rất quan trọng, học từ trải nghiệm phải liên kết kinh nghiệm của người học với HĐ phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); nếu chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã làm cho kinh nghiệm trở thành trải nghiệm giáo dục.
Ở Việt Nam, các nhà quản lí và nhà khoa học cũng đặc biệt quan tâm tới vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông, nhiều tài liệu, giáo trình đã được biên soạn, nhiều đề tài nghiên cứu, công trình và các Hội thảo về HĐTN, HN như: - Tác giả Phạm Tất Dong đã nghiên cứu rất chi tiết về: “Hứng thú nghề 8 nghiệp, những vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp hướng nghiệp cho HS”. Điều này được thể hiện thông qua hàng loạt các bài báo, bài viết của tác giả, đặc biệt là đề tài khoa học cấp nhà nước Th c trạng và giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả công tác h ng nghiệp trong tr ờng phổ thông” (2003); Gần đây ông đã có bài viết rất quan trọng là: Đề xuất một số biện pháp cụ thể về công tác hướng nghiệp trong giai đoạn 2005 – 2010 [13]. - Tác giả Đặng Danh nh cho rằng: “Cách mạng khoa học kĩ thuật đã thay đổi tận gốc lao động, và do đó thay đổi những đặc điểm và cách đào tạo con người ở trong nhà trường. Cần phải trang bị cho HS không chỉ kiến thức và kĩ thuật công nghệ nhất định mà còn hình thành có hiệu quả phương tiện phát triển tư duy sáng tạo kĩ thuật, tính độc lập trí óc, hình thành kĩ năng, trong thời gian tối thiểu thu được lượng thông tin tối đa và năng lực tự học”.
- Tác giả Nguyễn Văn Hội đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho HS Việt Nam” [16] trong công trình khoa học của mình. Ông đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông. - Một số tác giả khác như Đoàn Chi, Nguyễn Trọng Bảo, Bùi Việt Phú, Nguyễn Toàn, Nguyễn Viết Sự, 24. đã đề cập đến vị trí, vai trò, nội dung, tính chất của công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông, đưa ra một số nhận x t về thực trạng và nêu các nội dung mà công tác giáo dục hướng nghiệp cần đổi mới trong giai đoạn hiện nay.
Năm 2011, môn học “Giáo dục trải nghiệm” lần đầu tiên được giảng dạy cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học ngành quản lí, liên kết giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội với Đại học Keuka, Mỹ. 9 Ban Phát triển các chương trình môn học của Bộ Giáo dục & Đào tạo đã khẳng định vị trí của hoạt động trải nghiệm với giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: “Chương trình Hoạt động trải nghiệm tiếp tục phát triển những phẩm chất và năng lực đã hình thành từ giai đoạn giáo dục cơ bản thông qua hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng và hoạt động giáo dục HN nhưng tập trung cao hơn vào việc phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp”. Mục tiêu của chương trình nhằm hình thành các năng lực chung và phát triển trong hoạt động trải nghiệm được thể hiện dưới các hình thức đặc thù: năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp. Trong chương trình này cũng đề cập đến nội dung hoạt động, phương pháp thực hiện và điều kiện thực hiện chương trình.
Một số nghiên cứu về quản lí hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cho học sinh THCS Ở Việt Nam, để xác định phương pháp giáo dục của nước nhà, ngay từ những năm 1945 thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Mình từng chỉ rõ: H c đi đôi v i hành, giáo dục kết h p v i lao động sản xuất, nhà tr ờng gắn li n v i x hội!”. Người đã đề ra nội dung giáo dục toàn diện đối với HS bao gồm: “thể dục, tr dục, mỹ dục, đức dục” và đưa ra quan điểm giáo dục thiếu nhi đó là: “Trong quá trình giáo dục thiếu nhi phải giữ toàn vẹn cái t nh vui vẻ, hoạt bát, t nhiên, t động, trẻ trung của ch ng. Và trong l c h c, c ng cần làm cho ch ng vui, trong l c vui c ng cần làm cho ch ng h c”. Đã có nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến HĐTN nói chung và quản lí HĐTN trong trường THCS nói riêng như: Tác giả Đặng Thị Kim Thoa với bài HĐTN – Góc nhìn từ lý thuyết h c từ trải nghiệm”” và “ ục tiêu năng l c, nội dung ch ng trình, cách đánh giá trong HĐTN” đã chỉ ra rằng: để phát triển chương trình HĐTN theo 10 tiếp cận năng lực cần phải xác định và xây dựng được khung năng lực, từ đó thiết kế nội dung để đạt được mục tiêu đặt ra.
Trong bài “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà tr ờng phổ thông” tác giả Bùi Ngọc Diệp đã gợi ý các hình thức tổ chức HĐTN có thể tổ chức được nhiều nhất, hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu và mục tiêu giáo dục. Ngoài ra còn có những nghiên cứu khác như: “Thiết kế HĐTN gắn v i dạy h c phát triển năng l c cho HS” của tác giả Đặng Văn Nghĩa và “Chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng l c: vấn đ dạy h c và tổ chức dạy h c” tác giả Trần Ngọc Giao, Đặng Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Mai Phương. Như vậy, HĐHN, trải nghiệm cho HS đã được nhiều tác giả quan tâm, thể hiện qua các công trình khoa học trong và ngoài nước. Mọi chủ trương, đường lối của của Đảng, Nhà nước và ngành GD-ĐT.
đều tập trung để tư vấn, định hướng nghề và hình thành các kĩ năng sống cho HS, giúp các em dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trong nền KT-XH ở m i quốc gia. Tuy rằng các tác giả đã nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng hầu hết lại chưa phân tích cụ thể các biện pháp quản lí HĐTN, HN ở trường trung học cơ sở theo hướng tiếp cận phối hợp.