CHƯƠNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ngoài nước W. Đóng góp nổi bật của ông là đưa ra quan điểm về trải nghiệm trong nhận thức sự vật hiện tượng ở triết học, đó là khẳng định chân lý của một lý thuyết cần được kiểm nghiệm qua trải nghiệm thực tiễn; đồng thời ông cũng đưa ra một chu trình, tạo ra một dòng chảy trải nghiệm liên tục của quá trình nhận thức.
Deway (1859-1952) là người đưa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Ông đề cao luận điểm về PP dạy học trải nghiệm và nhấn mạnh rằng sự phát triển thể chất của trẻ sẽ đi trước về giác quan, theo đó trẻ hành động trước khi có nhận thức đầy đủ về hành động đó. Deway cũng cho rằng chương trình dạy học và việc dạy học phải là quá trình xâu chuỗi các thành tố trong kinh nghiệm cũ và mới của học sinh. Quá trình học của học sinh phải là quá trình hình thành cái nhìn mới, hứng thú và kinh nghiệm mới.
Hiện tại, tư tưởng giáo dục của J. Deway về “học thông qua làm, học qua trải nghiệm” vẫn là một trong triết lý giáo dục điển hình của nước Mỹ và nhiều nước khác. Deway đã ủng hộ mạnh mẽ việc học thông qua trải nghiệm khi tạo ra cả một trường học thí điểm tại Đại học Chicago và sau đó là hàng loạt trường khác khắp nước Mỹ”. Follett (1868-1933) đóng góp cho lý thuyết học trải nghiệm với công trình về “Mối quan hệ học tập, trải nghiệm và sáng tạo”.
Follett, chìa khóa để sáng tạo, ý chí và sức mạnh nằm sâu trong kinh nghiệm. Kolb đã rất nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về học trải nghiệm như “Trải nghiệm là cơ sở học tập và phát triển”, “học tập qua giao tiếp: phương pháp trải nghiệm để sáng tạo, đổi mới kiến thức trong giáo dục chuyên nghiệp”, “Bước lên hành trình đi từ giảng dạy tới học tập và hành vi tổ chức”, “phương pháp trải nghiệm”,… Ngoài ra ông còn là tác giả của nhiều bài báo và các chương sách về hoạt động trải nghiệm. Kolb đã nhận được nhiều giải thưởng ghi nhận các nghiên cứu của ông, đồng thời được trao bốn bằng danh dự công nhận các đóng góp của ông đối với phương pháp học tập trải nghiệm ở nền giáo dục Mỹ. Với trên 50 năm học tập và 5 nghiên cứu của mình, D.
Kolb tuy không phải là người tạo ra lý thuyết học tập qua hoạt động trải nghiệm, nhưng chính ông đã phát hiện ra lý thuyết này trong các tác phẩm của các học giả xuất sắc ở thế kỷ XX - những người đã đưa yếu tố trải nghiệm giữ vai trò trọng tâm trong các lý thuyết về học tập và phát triển con người của mình, đặc biệt là J. Xem xét hoạt động trải nghiệm của học sinh tại một số quốc gia, dựa theo dữ liệu [Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Kỷ yếu hội thảo hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông, Hà Nội]: - Ở Hàn Quốc, giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục và được gọi là hoạt động đặc biệt, hoạt động ngoại khóa sáng tạo và được thống nhất gọi là hoạt động trải nghiệm sáng tạo (creative experiential activities) từ năm 2019. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo này được tiến hành liên tục từ cấp tiểu học đến THPT, với tỷ lệ phân bố như sau: cấp tiểu học 780/5828 (giờ) chiếm 13,4%; cấp THCS là 306/3366 (giờ) chiếm 9.1% và cấp THPT là 24 unit/204 unit chiếm 11,8% [6, 59]. Chương trìnhhoạt động trải nghiệm, là một thành tố cấu thành nên chương trình cơ bản cùng với hệ thống các môn học bắt buộc và các hoạt động tự chọn, được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12.
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động ngoại khóa sau giờ lên lớp, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy, giúp học sinh biết vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế, biết chia sẻ và quan tâm tới xung quanh. - Ở Anh; năm 2004, ngoài các môn học, học sinh còn phải thực hiện chương trìnhhoạt động trải nghiệm ở ngoài xã hội; liên kết được nhiều chủ đề của chương trình dạy học phù hợp với mục tiêu dạy học và đối tượng học sinh. - Ở Nhật Bản, chương trình giáo dục nhấn mạnh đến tư duy sáng tạo và kinh nghiệm cá nhân. Học sinh được dạy các hành động độc lập, biết cách đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ thông qua các bài học trong tất cả các môn học.
- Ở Trung Quốc, chương trình giáo dục thực hiện mục tiêu dạy học theo NL. Chương trình hoạt động dựa vào “Kế hoạch chương trình” do Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng gồm hai loại chính, đó là chương trình hoạt động chung và chương trình hoạt động theo hứng thú. Chương trình hoạt động theo hứng thú được thiết kế nhằm thỏa mãn nhu cầu khác nhau của học sinh, bồi dưỡng sở thích và tài năng đặc biệt của 6 học sinh và bao gồm các hoạt động như Khoa học kĩ thuật, Văn học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao… học sinh có thể chọn một trong các hoạt động đó. - Ở Singapore, chương trình hiện nay được xây dựng theo định hướng phát triển các NL thế kỉ XXI cho học sinh.
Theo đó, mục tiêu của hoạt động ngoại khóa và chương trình HT năng động - một “thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở nhà trường” nhằm phát triển các NL của học sinh, kết hợp cùng với việc giảng dạy các môn học khác trong chương trình quốc gia để học sinh đạt được những NL cốt lõi của thế kỉ XXI. Chương trình hoạt động năng động có thể được thiết kế theo chủ đề kèm với thời gian HT chương trình môn học. - Ở Australia, hoạt động giáo dục ngoài trời (outdoor education activities) được coi là một môn học trong chương trình GD, thực hiện xuyên suốt từ bậc Mẫu giáo đến hết lớp 12, được kết hợp mục tiêu HT các môn học khác. Hoạt động giáo dục có thể coi là một môn học hoặc hoạt động được thực hiện song song với chương trình môn học ở nhà trường nhưng luôn có một vị trí quan trọng trong việc phát triển toàn diện học sinh.
Chúng được thiết kế để hỗ trợ HT và phát triển. - Ở Phần Lan triết lý cơ bản của nền giáo dục là niềm tin vào khả năng của con người. Những người làm chính sách giáo dục của Phần Lan tin rằng bất kỳ ai cũng mang trong mình những giá trị có thể đóng góp cho xã hội. Mục đích của giáo dục không phải đưa con người vào khuôn khổ, mà là giúp học sinh phát hiện và phát huy tố chất vốn có của bản thân.
Do đó trường học là nơi bình đẳng, mọi học sinh đều hưởng những cơ hội ngang nhau, để trẻ tự do phát triển cá tính, nguyện vọng và tài năng. - Ở Colombia là nước khởi nguồn của mô hình VNEN, từ năm 1992 trẻ em nghèo của nước này đã được giáo dục bằng cách thực hành thay vì học để thi và kết quả là những trẻ em nghèo học trong trường học theo mô hình này phát triển tốt hơn các bạn cùng lứa trong các trường học truyền thống. Lúc này dạy học theo mô hình VNEN được các thành phố của Colombia xem xét như một con đường phá vỡ mô hình trường công truyền thống. Có thể thấy đây là những kinh nghiệm quí giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu mới.
Nghiên cứu trong nước Thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội, trong thời gian qua đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về vấn đề giáo dục học sinh và quản lý giáo dục học sinh. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; Yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Sống tốt và làm việc hiệu quả.
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, từ sau năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo bước đầu tìm hiểu và triển khai hoạt động giáo dục trải nghiệm trong các trường phổ thông. Một trong những yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Học đi đôi với hành; Lý luận gắn với thực tiễn; Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; Khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Trong thời gian gần đây, hoạt động giáo dục với tên gọi là “Hoạt động trải nghiệm” nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lí giáo dục và giáo viên. Hoạt động trải nghiệm được cho là có thể mang lại cho học sinh cơ hội và điều kiện phát triển năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng.
Với hoạt động trải nghiệm, hình thức và không gian dạy học được đổi mới, mở rộng ra ngoài lớp học; Lực lượng tham gia quá trình dạy học không chỉ là giáo viên trong trường mà có sự tham gia của các thành phần xã hội. Việc đưa hoạt động trải nghiệm vào trong chương trình giáo dục của nhà trường góp phần khắc phục 8 những hạn chế của chương trình giáo dục hiện nay, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Hoạt động giáo dục trải nghiệm là các hoạt động trải nghiệm định hướng giáo dục.