CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Giáo dục phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta. Cấp Trung học phổ thông là cấp cuối cùng của bậc trung học trong hệ thống giáo dục phổ thông, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Điều 27 luật giáo dục đã nêu rõ các trường THPT có nhiệm vụ: “ Giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục của trường Trung học sơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
Trong báo cáo chính trị đại hội Đảng IX đã nêu: “ Phát triển GD- ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững”. Và trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”, Đảng và nhà nước đã đề ra mục tiêu tổng quát đến 2020 nền giáo dục Việt Nam được “ đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa…” [Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 được thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam phê duyệt ngày 13 tháng 6 năm 2012]. Để thực hiện được mục tiêu đó ngoài việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW II (khóa VIII) về phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 ( ký ngày 15 tháng 4 năm 2009) : “ Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều. Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học…” thì nền GD Việt nam phải dẫn tiến tới đến năm 2015 là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh.
7 z Trong những năm gần đây, có nhiều đề tài công trình nghiên cứu đã đề xuất ra các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạy học nói riêng ở các nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực cho xã hội. Trong đó có đề tài: “Biện pháp quản lý chất lượng dạy học ở các trường Trung học phổ thông, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” luận văn thạc sĩ của học viên Hoắc Công Học (Năm 2006); đề tài: “Các biện pháp quản lý nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của tổ chuyên môn tại trường THPT chuyên Bắc Giang” của tác giả Ngô Văn Bình (Năm 2006); đề tài: “ Những biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học ở các THPT huyện Yên thế, tỉnh Bắc Giang” của tác giả Trần Thanh Hải (Năm 2006); đề tài “ Phát triển nhà trường THPT ở Việt Nam theo quan điểm nhà trường hiệu quả”, luận án tiến sĩ của học viên Nguyễn Mạnh Cường (Năm 2009), đề tài “Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn đối với giáo viên mới vào nghề ở các trường trung học phổ thông huyện Đoan Hùng, Phú Thọ giai đoạn 2010 – 2015” của tác giả Nguyễn Hồng Điệp (Năm 2010); đề tài: “ Quản lý công tác bồi dưỡng Học sinh giỏi tại trường trung học phổ thông chuyên Chu Văn An, Lạng Sơn” của học viên Phan Mỹ Hạnh (Năm 2011) và đề tài “ Những biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học tại trường THPT Sơn Tây” của tác giả Phạm Thị Thu Huyền (Năm 2012).Bên cạnh đó, nhiều tác giả là hiệu trưởng, hiệu phó các trường THPT, THPT chuyên có các bài viết tham luận chuyên đề về công tác quản lý hoạt động dạy học theo hướng đổi mới, công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, công tác bồi dưỡng Học sinh giỏi. trong các Hội nghị, tổ chức mạng lưới giáo viên cốt cán của trường THPT.Những bài viết, những công trình nghiên cứu trên đã đề cập khá toàn diện với cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động tổ chuyên môn và có thể vận dụng và phát triển vào việc quản lý các hoạt động của tổ chuyên môn ở các trường THPT tại địa bàn thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm Mọi hoạt động của đời sống xã hội đều cần tới quản lý. QL vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển hệ thống xã hội ở mọi cấp độ. Ở đâu có tập thể, có tổ chức là ở đó có QL. QL xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung.
Marx đã nói đến sự cần thiết của quản lý: “ Bất kỳ lao động nào có tính xã hội và chung, trực tiếp được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý. một người chơi vĩ cầm riêng rẽ thì tự điều khiển lấy mình nhung một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” Có nhiều định nghĩa về QL. Mary Parker Follett định nghĩa QL như là một ”nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua con người”. Theo định nghĩa kinh điển nhất: “Hoạt đông quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong mộ tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích’.
Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[5, tr. Từ các định nghĩa trên có thể thấy, mặc dù các tác giả có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QL nhưng họ đều thống nhất về bản chất của hoạt động QL với một số đặc điểm sau: - Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể QL (người QL, tổ chức QL); khách thể QL (người bị QL, đối tượng QL) gồm: con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng; mục tiêu của công tác QL do chủ thể QL áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể QL và khách thể QL; công cụ QL; 9 z phương pháp QL. Chủ thể QLvà khách thể QL luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường. - Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra.
- Tác động QL thường mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau. Vì vậy, trong QL không thể tuân thủ theo những quy định cứng nhắc mà phải linh hoạt, mềm dẻo. QL vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Là một khoa học vì các hoạt động QL luôn là một hoạt động có tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể.
QL đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động QL là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động. Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống. Nhà QL phải làm sao để có thể xử lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả MT đề ra, điều đó phụ thuộc vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người. Các chức năng của quản lý Chức năng kế hoạch hoá: là một chức năng cơ bản của QL, kế hoạch hoá có nghĩa là xác định MT, mục đích, đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Chức năng tổ chức: là quá trình hình thành nên cấu trúc, quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức hay chính là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên trong tổ chức một cách có hiệu quả nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ tổ chức có hiệu quả mà 10 z người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác. Một tổ chức phù hợp sẽ phát huy được nội lực và có ý nghĩa quyết định việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực.
Chức năng lãnh đạo: Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động và động viên đến mọi người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của tổ chức Chức năng kiểm tra, đánh giá: chức năng liên quan đến mọi cấp QL để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Thông qua chức năng này một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Chức năng kiểm tra là một chức năng quan trọng, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý.
Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, từ đó có biện pháp phù hợp để điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo.