Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động tín dụng của quỹ xã hội. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động tín dụng tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển tỉnh Lào Cai Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tín dụng tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển tỉnh Lào Cai 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng của quỹ xã hội 1.
Lý luận chung về quỹ xã hội 1. Khái niệm quỹ xã hội Để phát triển nền kinh tế quốc dân đi kèm với đảm bảo đời sống an sinh xã hội, việc thành lập các quỹ xã hội là vô cùng quan trọng để đáp ứng và hỗ trợ kịp thời những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Tại Điều 4, Nghị định số 93/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định: Quỹ xã hội là quỹ được tổ chức, hoạt động với mục đích hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học và phát triển nông nghiệp, nông thôn, không vì mục tiêu lợi nhuận (Chính phủ, 2019). Quỹ xã hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.
Mục đích và nguyên tắc tổ chức hoạt động của quỹ xã hội a) Mục đích tổ chức hoạt động của quỹ xã hội Quỹ xã hội được tổ chức và hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ, khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ, cộng đồng và từ thiện, nhân đạo, không vì mục tiêu lợi nhuận. b) Nguyên tắc tổ chức hoạt động của quỹ xã hội - Thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận có được trong quá trình hoạt động của quỹ không được dùng để phân chia cho các thành viên mà phải sử dụng cho các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện theo điều lệ của quỹ. - Tự nguyện, tự chủ, tự trang trải và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng tài sản của mình.
6 - Tổ chức, hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. - Công khai, minh bạch về tổ chức, hoạt động và thu, chi tài chính, tài sản của quỹ. - Không phân chia tài sản (Chính phủ, 2019). Quyền hạn, nghĩa vụ của quỹ xã hội a) Quyền hạn của quỹ xã hội - Tổ chức, hoạt động theo pháp luật và điều lệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
- Vận động quyên góp, tài trợ cho quỹ; tiếp nhận tài sản do các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước tài trợ, hiến, tặng hoặc bằng các hình thức khác theo đúng mục đích của quỹ và quy định của pháp luật. Tổ chức các hoạt động theo quy định của pháp luật để bảo tồn và tăng trưởng tài sản quỹ. - Được thành lập pháp nhân trực thuộc theo quy định của pháp luật; được quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật; quỹ được phối hợp với cá nhân, tổ chức để vận động quyên góp, vận động tài trợ cho quỹ hoặc để triển khai các đề án, dự án cụ thể của quỹ theo quy định của pháp luật. - Phối hợp với các địa phương, tổ chức, cá nhân cần sự trợ giúp để xây dựng và thực hiện các đề án tài trợ theo mục đích hoạt động của quỹ (Chính phủ, 2019).
b) Nghĩa vụ của quỹ xã hội - Quỹ hoạt động trong lĩnh vực nào thì phải chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước về ngành, lĩnh vực đó và chỉ được tiếp nhận tài trợ, vận động tài trợ trong phạm vi hoạt động theo điều lệ của quỹ. - Thực hiện tài trợ đúng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức đã ủy quyền phù hợp với mục đích của quỹ. - Quỹ được thành lập từ các nguồn tài sản hiến, tặng hoặc theo hợp đồng ủy quyền, di chúc mà không tổ chức quyên góp và nhận tài trợ thì hàng 7 năm phải dành tối thiểu 5% tổng số tài sản để tài trợ cho các chương trình, dự án phù hợp với mục đích hoạt động của quỹ. - Lưu trữ và có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, các chứng từ, tài liệu về tài sản, tài chính của quỹ, nghị quyết, biên bản về các hoạt động của quỹ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Sử dụng tài sản, tài chính tiết kiệm và hiệu quả theo đúng mục đích của quỹ; nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán, thống kê theo quy định của pháp luật; phải đăng ký mã số thuế và kê khai thuế theo quy định của pháp luật về thuế. - Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân tài trợ và cộng đồng theo quy định của pháp luật. Có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ quỹ và báo cáo kết quả giải quyết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Hàng năm, quỹ có trách nhiệm công khai các khoản đóng góp trên phương tiện thông tin đại chúng trước ngày 31 tháng 3.
- Khi thay đổi trụ sở chính hoặc Giám đốc quỹ, quỹ phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập quỹ. - Hàng năm, quỹ phải báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động và tài chính với cơ quan cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ, cơ quan quản lý nhà nước về tài chính cùng cấp với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập quỹ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực hoạt động của quỹ và báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi quỹ đặt trụ sở trước ngày 31 tháng 12. - Thực hiện các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến tổ chức, hoạt động của quỹ và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và điều lệ quỹ (Chính phủ, 2019). Lý luận chung về hoạt động tín dụng của quỹ xã hội 1.
Khái niệm tín dụng, tín dụng của quỹ xã hội a) Khái niệm tín dụng 8 Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn. Theo Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010: Tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Quốc hội, 2010). b) Khái niệm tín dụng của quỹ xã hội Từ khái niệm về tín dụng và khái niệm về quỹ xã hội đã phân tích ở trên có thể hiểu: Hoạt động tín dụng của quỹ xã hội là việc các quỹ xã hội sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động, nguồn vốn được cấp để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay. Mục đích hoạt động tín dụng của các quỹ xã hội là cung cấp các khoản vay với mục tiêu giúp các đối tượng vay có điều kiện để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, từ đó góp phần nâng cao mức sống của họ.
Đặc điểm hoạt động tín dụng của các quỹ xã hội Hoạt động tín dụng của các quỹ xã hội có một số đặc điểm riêng biệt khác với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính hoạt động vì lợi nhuận như sau: 9 - Thứ nhất, các khoản cho vay thường nhỏ, đặc trưng vốn lưu động. Các quỹ xã hội cấp tín dụng thường xuyên cho những khách hàng có thu nhập thấp (hội phụ nữ , nông dân…), vì vậy mà các khoản cho vay thường có giá trị nhỏ, thời gian ngắn và không có tài sản bảo đảm. - Thứ hai, các khoản cho vay của các quỹ xã hội được thế chấp bằng tín chấp và tiết kiệm bắt buộc. Khách hàng thường không có tài sản thế chấp, nếu có thì giá trị cũng thấp vì khách hàng là những người nghèo/người thu nhập thấp không có khả năng đáp ứng về tài sản bảo đảm, do đó không thể đi vay được.
Chính vì vậy, các khoản tín dụng của các quỹ xã hội thường được cung cấp dưới hình thức tín chấp hoặc thông qua các khoản tiết kiệm bắt buộc. - Thứ ba, hoạt động cho vay được tổ chức tại điểm thu phát vốn thuận tiện ngay ở khu dân cư sinh sống. Để khách hàng có thể tiếp cận một cách nhanh nhất và tốt nhất với các quỹ xã hội thì tổ chức này phải có những mạng lưới thu/phát ngay tại khu sinh sống của dân cư, thuận lợi tốt nhất cho việc sử dụng các sản phẩm vì nếu như ở xa khu dân cư thì việc đi lại để đến các phòng giao dịch sẽ khó khăn, chi phí tốn kém, làm giảm khả năng sử dụng sản phẩm của khách hàng. - Thứ tư, các sản phẩm tiết kiệm của các quỹ xã hội có tính giáo dục cộng đồng cao.
Các sản phẩm tiết kiệm có tính giáo dục tài chính cao tới các khách hàng thành viên của mình, giúp người nghèo có thể hiểu về dịch vụ tiết kiệm, từ đó có ý thức tiết kiệm và tích lũy (dù cho số tiền họ tích lũy được là rất nhỏ, có thể chỉ là vài nghìn). - Thứ năm, quy trình cho vay đơn giản với cơ chế giám sát cộng đồng. Các khoản vay được thông qua nhanh và dễ dàng nhằm khuyến khích nhóm khách hàng mục tiêu - những người thiếu tự tin và tinh thần tự tôn. Cán bộ tín dụng gắn kết, hiểu rõ khách hàng, quản lý khách hàng thông qua sức ép của cộng đồng.