Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Ở nước ta, vấn đề thực tập và nâng cao tay nghề đã được nhắc đến từ những năm 70 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, thời gian này mới chỉ áp dụng ở các trường Sư phạm và trường Y Khoa. Sau nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, chương trình thực tập sư phạm đã được Bộ Giáo Dục - Đào tạo ban hành kèm theo các quyết định (QĐ) số 2677/GD-ĐT ngày 3-12-1993, QĐ số 3086/GD-ĐT ngày 27/7/1996, QĐ số 3637/GD-ĐT ngày 30/8/1996 và QĐ số 2493/GD-ĐT ngày 25/7/1995 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
Chương trình thực tập sư phạm hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, vì thế các nhà khoa học giáo dục vẫn tiếp tục nghiên cứu để nâng cao chất lượng và hiệu quả thực tập sư phạm. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như: Tài liệu “Hỏi đáp về thực tập sư phạm” của tập thể các tác giả nhà giáo ở các trường đại học sư phạm (ĐHSP) Tp. Hồ Chí Minh, ĐHSP Huế, ĐHSP Quy Nhơn và ĐHSP Cần Thơ do PGS. Bùi Ngọc Hồ chủ biên (1993) mang tính chất là một cẩm nang thực tập sư phạm, không những dành cho sinh viên mà còn rất hữu dụng đối với cán bộ quản lý, giảng viên.
Tài liệu đã khẳng định mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động thực tập sư phạm trong quá trình đào tạo các giáo sinh. Những nội dung cơ bản của thực tập sư phạm đã được đề cập một cách cụ thể dưới hình thức Hỏi - Đáp sinh động, có hệ thống, giúp các sinh viên chuẩn bị đi thực tập hiểu được các yêu cầu về thái độ, tác phong, nhận thức của một giáo sinh. Nhìn chung, đây là một tài liệu quý, có thể dùng làm cơ sở để nghiên cứu hoạt động thực tập sư phạm. “Thực tập sư phạm” của TS.
Nguyễn Đình Chỉnh (1997) đã nêu lên và giải quyết những vấn đề cơ bản như: xác định nội hàm khái niệm cơ bản là năng lực sư 7 8 phạm; mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành; thực tập sư phạm đối với những môn học công cụ như: Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn; Các hình thức tổ chức thực tập sư phạm ở các trường sư phạm. “Kiến tập và thực tập sư phạm” của TS. Nguyễn Đình Chỉnh và TS. Phạm Trung Thanh (1999) là giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP dùng cho các trường CĐSP.
Các tác giả đã nêu lên những vấn đề bức xúc đang được đặt ra hiện nay đối với hoạt động thực tập sư phạm và đề xuất những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho giáo sinh. Giáo trình cũng đã khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của kiến tập và thực tập trong quá trình đào tạo giáo viên; những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc tổ chức kiến tập và thực tập sư phạm; nội dung kiến tập và thực tập sư phạm; phương pháp đánh giá kết quả kiến tập và thực tập. Có thể xem đây là một cẩm nang dành cho sinh viên sư phạm. Tuy nhiên, giáo trình còn mang nặng tính lý thuyết, chưa được sinh động lắm.
“Quản lý hoạt động thực tập sư phạm ở trường Cao Đẳng sư phạm Nha Trang - thực trạng và giải pháp”, luận văn Thạc sĩ của Phan Phú (2003) là một công trình nghiên cứu đi sâu vào việc phân tích thực trạng của việc quản lý thực tập tại Trường Cao Đẳng sư phạm Nha Trang, các nguyên nhân dẫn đến thực trạng để từ đó đề ra các giải pháp căn cứ trên các điều kiện thực tế của trường nhằm quản lý hiệu quả hơn hoạt động thực tập. “Thực trạng việc quản lý thực tập ở trường Cao Đẳng Bán Công Hoa Sen và một số giải pháp”, luận văn Thạc sĩ của Bùi Trân Thúy (2004) phân tích thực trạng hoạt động thực tập của sinh viên Khoa Quản Trị Trường Cao Đẳng Bán Công Hoa Sen, những nguyên nhân ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thực tập của sinh viên. Như vậy, vấn đề thực tập của sinh viên trong lĩnh vực sư phạm đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu sâu xuất phát từ yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như thực tế của công tác này tại các trường sư phạm và được thể hiện thông qua các tài liệu, giáo trình, các đề tài khoa học nhằm tìm ra những giải pháp làm cho việc tổ chức, quản lý hoạt động này có hiệu quả hơn, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm. 8 9 Mảng thực tập tại các doanh nghiệp của sinh viên với mục đích tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội vận dụng những lý thuyết đã được học tại trường vào giải quyết các vấn đề thực tế xảy ra trong các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp không phải hoàn toàn mới mẻ với nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chính thức về vấn đề này vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy, tác giả đã mạnh dạn đề xuất nghiên cứu đề tài “Tổ chức quản lý hoạt động thực tập của sinh viên Khoa Du Lịch Trường Đại Học Văn Lang, giai đoạn 2010 - 2012”. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Sinh viên Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì: “Sinh viên là người đang học ở bậc đại học”3.
Khoản 1, Điều 83, Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 có ghi: “Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Người học bao gồm: o Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non; o Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, trường dự bị đại học; o Sinh viên của các trường cao đẳng, đại học; o Học viên của cơ sở đào tạo thạc sĩ; o Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sĩ; o Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên”4 Theo đó, người học ở mỗi cấp độ có một tên gọi khác nhau. Sinh viên là tên gọi của người học ở trường cao đẳng, đại học. Trong đề tài này, sinhviên được hiểu là người học ở bậc đại học.
Thực tập Theo Đại từ điển Tiếng Việt, thực tập có nghĩa là tập làm trong thực tế để áp dụng những điều đã học, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Thực tập sinh là người được cử đến các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu để làm việc, để trau dồi 3 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại Tử Điển tiếng Việt, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, trang 1448. 4 Quốc Hội nước nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo Dục nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội. 9 10 thêm về chuyên môn, nghiệp vụ.5 Theo Từ điển Giáo Dục Học của NXB Từ Điển Bách Khoa, thực tập có nghĩa là dạng hoạt động thực tiễn sau phần học lý thuyết nhằm mục đích cụ thể hóa và củng cố kiến thức, phát triển khả năng quan sát, nhận thức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống tự lập trong tương lai của học sinh.
Thực tập một cách có hệ thống, thường xuyên là phương thức quan trọng nhất đảm bảo nguyên tắc giáo dục “lý luận liên hệ với thực tiễn”6 1. Thực tập tại doanh nghiệp Đây là khoảng thời gian sinh viên được trường giới thiệu hoặc sinh viên tự liên hệ với công ty, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sinh viên được đào tạo đến đó làm việc như những nhân viên thực thụ trong thời gian theo qui định của trường hoặc ngành học. Trong quá trình thực tập, sinh viên phải chấp hành đầy đủ các qui định của đơn vị như thời gian làm việc, giờ giấc, nội quy ….đồng thời chịu sự quản lý, theo dõi và đánh giá của đơn vị. Những công việc được phân công có thể tùy theo chuyên ngành đào tạo, năng lực bản thân, nhu cầu nhân sự của đơn vị.
Hiện nay, có nhiều trường đại học, cao đẳng đã đưa thực tập tại doanh nghiệp thành một nội dung bắt buộc trong chương trình đào tạo của mình. Đây là khoảng thời gian sinh viên học tập và làm việc trực tiếp tại các doanh nghiệp có liên quan đến ngành học của sinh viên. Sau thời gian thực tập, sinh viên phải làm bài báo cáo/ thu hoạch theo yêu cầu của trường để lấy điểm. Đây là một học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo của một số ngành ở một số trường hiện nay.
Tổ chức Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, tổ chức là: o Sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung. o Sắp xếp, bố trí để làm cho có trật tự, nền nếp. 5 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại Tử Điển tiếng Việt, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, trang 1616. 6 Bùi Hiền – Nguyễn Văn Giao – Nguyễn Hữu Quỳnh – Vũ Văn Tảo (2001), Từ Điển Giáo Dục Học, NXB Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, trang 379.
10 11 o Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó”7. Quản lý Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người. Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, bất kể đó là nhóm không chính thức hay nhóm chính thức, nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì. Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan.
Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì.”8 Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó”9. Theo Mary Parker Follet (Mỹ): “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”10.TS Vũ Dũng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”11.