Quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh bình phước

Nâng cao hiệu quả quản lý thanh tra chuyên ngành về tổ chức cán bộ tại các trường THPT Bình Phước. Đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2020

140
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý thanh tra công tác tổ chức cán bộ THPT

Hoạt động quản lý thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ tại các trường trung học phổ thông (THPT) là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước về giáo dục. Hoạt động này không chỉ đảm bảo việc tuân thủ pháp luật mà còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Theo định nghĩa trong Luật Thanh tra 2010, thanh tra chuyên ngành là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, các quy định về chuyên môn - kỹ thuật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong bối cảnh giáo dục, đây là công cụ để Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) giám sát các trường THPT. Mục đích chính là phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách để kiến nghị biện pháp khắc phục; phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm. Công tác này giúp các nhà trường thực hiện đúng quy định, phát huy các nhân tố tích cực và xây dựng một môi trường giáo dục kỷ cương, minh bạch. Hoạt động này khác với kiểm tra thông thường. Thanh tra mang tính pháp lý cao hơn, do cơ quan quản lý cấp trên thực hiện, và kết quả được thể hiện qua văn bản kết luận có tính ràng buộc. Ngược lại, kiểm tra có thể do thủ trưởng đơn vị thực hiện, mang tính nội bộ, nhằm đôn đốc, uốn nắn kịp thời. Quản lý hoạt động thanh tra đòi hỏi một quy trình chặt chẽ, từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo đến kiểm tra, giám sát. Việc hiểu rõ cơ sở lý luận và vai trò của công tác này là nền tảng để xây dựng các giải pháp quản lý hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục.

1.1. Hiểu đúng về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục

Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục là hoạt động giám sát của cơ quan quản lý cấp trên đối với cấp dưới, nhằm đảm bảo việc chấp hành pháp luật và các quy định liên quan đến giáo dục và đào tạo. Theo Nghị định số 42/2013/NĐ-CP, tổ chức thanh tra giáo dục bao gồm Thanh tra Bộ GD&ĐT và Thanh tra Sở GD&ĐT. Chức năng cốt lõi của hoạt động này là xem xét, đánh giá và xử lý theo trình tự pháp luật, giúp các đơn vị vận hành đúng định hướng, phòng ngừa sai phạm và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

1.2. Mục tiêu của hoạt động thanh tra công tác tổ chức cán bộ

Mục tiêu chính của thanh tra công tác tổ chức cán bộ (TCCB) tại các trường THPT là đảm bảo tính minh bạch và đúng đắn trong việc thực thi chính sách, pháp luật về nhân sự. Hoạt động này giúp phát hiện và chấn chỉnh các sai sót trong quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo và thực hiện chế độ chính sách cho cán bộ, giáo viên. Đồng thời, nó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của hiệu trưởng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà giáo và xây dựng đội ngũ nhân sự chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.

1.3. Các nội dung chính trong quy trình thanh tra chuyên ngành

Nội dung thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB bao gồm nhiều khía cạnh quan trọng. Theo Thông tư số 39/2013/TT-BGDĐT, các nội dung chính gồm: việc ban hành văn bản quản lý nội bộ; xây dựng bộ máy tổ chức; công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ quản lý và giáo viên; công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và thực hiện chế độ, chính sách đối với nhà giáo. Việc thanh tra toàn diện các nội dung này giúp cơ quan quản lý có cái nhìn tổng thể và đưa ra những điều chỉnh cần thiết.

II. Thách thức trong quản lý thanh tra chuyên ngành tại Bình Phước

Thực tiễn quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững kỷ cương, nền nếp. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Trịnh Văn Nam (2020) chỉ ra rằng công tác này vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là hình thức thanh tra. Khảo sát cho thấy hoạt động thanh tra chủ yếu được thực hiện lồng ghép với kế hoạch thanh tra trách nhiệm quản lý của hiệu trưởng (điểm trung bình 3.718), trong khi hình thức thanh tra chuyên đề lại gần như không được triển khai (điểm trung bình 1.970). Việc lồng ghép khiến công tác thanh tra TCCB không đi vào chiều sâu, khó phát hiện các vấn đề phức tạp. Về phương pháp, dù các đoàn thanh tra đã áp dụng phương pháp đối thoại, yêu cầu giải trình (điểm trung bình 3.9), nhưng việc hoàn thiện số liệu, chứng cứ và xử phạt vi phạm hành chính còn hạn chế (điểm trung bình 2.958). Điều này làm giảm tính răn đe và hiệu lực của các kết luận thanh tra. Bên cạnh đó, các điều kiện hỗ trợ như cơ sở vật chất, kinh phí và đặc biệt là năng lực của đội ngũ cộng tác viên thanh tra chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân của những hạn chế này đến từ cả yếu tố khách quan và chủ quan, bao gồm nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của thanh tra, công tác lập kế hoạch chưa khoa học và sự thiếu hụt nguồn lực. Để nâng cao hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt.

2.1. Thực trạng về nội dung và hình thức thanh tra hiện nay

Khảo sát thực trạng cho thấy, Sở GD&ĐT Bình Phước tập trung thanh tra các nội dung như quy hoạch, bổ nhiệm, tuyển dụng (điểm trung bình 3.966). Tuy nhiên, các nội dung khác của pháp luật liên quan đến công tác TCCB lại ít được chú trọng (điểm trung bình 2.912). Về hình thức, việc thanh tra theo kế hoạch năm học là chủ yếu. Hình thức thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật vẫn chưa được thực hiện thường xuyên (điểm trung bình 2.959), làm giảm khả năng phòng ngừa và xử lý kịp thời các sai phạm.

2.2. Những hạn chế trong phương pháp và điều kiện hỗ trợ

Một hạn chế lớn là phương pháp thanh tra chưa đủ sâu. Công tác thẩm tra, xác minh và trưng cầu giám định chưa được áp dụng triệt để. Theo nghiên cứu, các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động thanh tra còn nhiều bất cập. Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và kinh phí phục vụ công tác thanh tra còn thiếu thốn. Đội ngũ làm công tác thanh tra, đặc biệt là cộng tác viên thanh tra, tuy có kinh nghiệm nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ một cách bài bản và thường xuyên, ảnh hưởng đến chất lượng các cuộc thanh tra.

2.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thanh tra

Nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ việc nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý về tầm quan trọng của thanh tra công tác TCCB chưa đầy đủ. Công tác xây dựng kế hoạch thanh tra đôi khi còn mang tính hình thức, chưa bám sát thực tiễn và các vấn đề nóng của ngành. Bên cạnh đó, bộ máy tổ chức thanh tra của Sở còn mỏng, chưa hợp lý, trong khi khối lượng công việc lớn. Sự phối hợp giữa đoàn thanh tra và các đơn vị liên quan đôi khi chưa chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả sau thanh tra chưa cao.

III. Bí quyết nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thanh tra cán bộ

Để khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ, cần triển khai một cách đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính chiến lược. Dựa trên kết quả nghiên cứu và khảo nghiệm thực tiễn tại Bình Phước, ba biện pháp cốt lõi được xác định là cấp thiết và có tính khả thi cao. Thứ nhất, việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên về mục đích, vai trò của công tác thanh tra là nền tảng. Khi đối tượng được thanh tra hiểu đúng và hợp tác, quá trình thanh tra sẽ trở nên thuận lợi và hiệu quả hơn. Điều này có thể thực hiện thông qua các buổi tập huấn, hội thảo và phổ biến văn bản pháp luật. Thứ hai, cần tập trung xây dựng bộ máy tổ chức thanh tra chuyên nghiệp. Điều này bao gồm việc kiện toàn đội ngũ thanh tra viên của Sở và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng cộng tác viên thanh tra. Một đội ngũ có chuyên môn vững vàng, am hiểu pháp luật và có kỹ năng nghiệp vụ tốt là yếu tố quyết định đến chất lượng của mỗi cuộc thanh tra. Thứ ba, cải tiến hoạt động xây dựng kế hoạch thanh tra là một nhiệm vụ trọng tâm. Kế hoạch cần được xây dựng một cách khoa học, chi tiết, dựa trên phân tích tình hình thực tế và xác định rõ trọng tâm, trọng điểm. Thay vì lồng ghép, cần tăng cường các cuộc thanh tra chuyên đề về TCCB để đi sâu vào các vấn đề phức tạp.

3.1. Giải pháp nâng cao nhận thức và xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp

Cần tổ chức các lớp bồi dưỡng, phổ biến các văn bản pháp luật mới về thanh tra và công tác cán bộ cho hiệu trưởng và cán bộ chủ chốt tại các trường THPT. Đồng thời, Sở GD&ĐT cần xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra cho thanh tra viên và đội ngũ cộng tác viên. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các kỹ năng thực tiễn như thu thập chứng cứ, đối thoại, thẩm tra và lập biên bản, kết luận thanh tra.

3.2. Cải tiến quy trình lập kế hoạch thanh tra khoa học chi tiết

Hoạt động lập kế hoạch thanh tra hàng năm phải xuất phát từ yêu cầu quản lý và thực tiễn của địa phương. Kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nội dung, thời gian và thành phần đoàn thanh tra. Đặc biệt, cần ưu tiên các cuộc thanh tra chuyên đề về các lĩnh vực nhạy cảm như tuyển dụng, bổ nhiệm và quản lý tài chính liên quan đến nhân sự để tăng cường tính chuyên sâu và hiệu quả.

3.3. Tăng cường công tác lãnh đạo chỉ đạo và giám sát thực thi

Lãnh đạo Sở GD&ĐT cần tăng cường chỉ đạo sát sao đối với hoạt động của các đoàn thanh tra. Cần có cơ chế giám sát hoạt động của đoàn, đảm bảo các thành viên thực hiện đúng quy trình, quy định, tránh tiêu cực, phiền hà. Việc chỉ đạo xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thanh tra cần kịp thời, quyết liệt. Sau khi có kết luận, cần chỉ đạo, đôn đốc và giám sát chặt chẽ việc thực hiện các kiến nghị của đối tượng được thanh tra.

IV. Hướng dẫn đổi mới công tác kiểm tra và đầu tư nguồn lực

Bên cạnh các giải pháp về nhận thức, nhân sự và kế hoạch, việc đổi mới công tác kiểm tra và đầu tư nguồn lực là hai yếu tố then chốt để hoàn thiện chu trình quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ. Đổi mới công tác kiểm tra ở đây không chỉ dừng lại ở hoạt động của đoàn thanh tra, mà còn là việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện kết luận sau thanh tra. Đây là khâu yếu nhưng lại quyết định hiệu lực thực tế của hoạt động thanh tra. Cần xây dựng một cơ chế theo dõi, đánh giá và báo cáo định kỳ về tình hình khắc phục các sai sót, yếu kém đã được chỉ ra trong kết luận. Nếu đối tượng thanh tra không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc, cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc theo quy định. Song song với đó, đầu tư nguồn lực là điều kiện tiên quyết để các hoạt động thanh tra được triển khai hiệu quả. Nguồn lực ở đây bao gồm cả con người, tài chính và cơ sở vật chất. Cần đảm bảo đủ kinh phí cho các hoạt động đi lại, ăn ở, làm việc ngoài giờ của đoàn thanh tra. Trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy tính, máy ghi âm, máy ảnh sẽ giúp công tác thu thập và lưu trữ bằng chứng trở nên khoa học và chính xác hơn. Việc đầu tư này không phải là chi phí, mà là sự đầu tư cho tính minh bạch và hiệu quả của cả hệ thống quản lý giáo dục tại địa phương.

4.1. Đổi mới phương pháp kiểm tra sau thanh tra để đảm bảo hiệu lực

Cần thiết lập một quy trình kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra. Thanh tra Sở phải có bộ phận chuyên trách theo dõi, đôn đốc các đơn vị. Kết quả thực hiện kiến nghị sau thanh tra nên được xem là một tiêu chí để đánh giá, xếp loại thi đua hàng năm đối với các nhà trường và cá nhân hiệu trưởng. Việc công khai kết quả xử lý sau thanh tra cũng là một biện pháp hữu hiệu để tăng cường tính giám sát của xã hội.

4.2. Đầu tư cơ sở vật chất kinh phí cho hoạt động thanh tra

Sở GD&ĐT cần xây dựng đề án cụ thể để đề xuất UBND tỉnh cấp kinh phí hàng năm cho công tác thanh tra. Nguồn kinh phí này cần được phân bổ rõ ràng cho các hoạt động: bồi dưỡng nghiệp vụ, chi phí công tác, mua sắm trang thiết bị. Việc đảm bảo các điều kiện vật chất và chế độ chính sách phù hợp sẽ là nguồn động viên lớn, giúp các thanh tra viên và cộng tác viên yên tâm công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

V. Kết quả khảo nghiệm các biện pháp quản lý tại Bình Phước

Để đảm bảo các giải pháp đề xuất không chỉ dừng lại ở lý thuyết, nghiên cứu đã tiến hành khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi thông qua lấy ý kiến của 210 cán bộ quản lý và giáo viên tại Sở GD&ĐT và các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Kết quả cho thấy sự đồng thuận cao của các đối tượng được khảo sát, khẳng định tính đúng đắn và phù hợp của các biện pháp. Về tính cấp thiết, tất cả 6 biện pháp đều được đánh giá ở mức "Rất cần thiết" và "Cần thiết". Cụ thể, biện pháp "Xây dựng bộ máy tổ chức, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ" và "Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo" được đánh giá là cần thiết nhất. Điều này phản ánh đúng thực trạng về nhu cầu nâng cao chất lượng nhân sự và vai trò của người đứng đầu trong việc nâng cao hiệu quả công tác thanh tra. Về tính khả thi, các biện pháp cũng nhận được đánh giá tích cực. Biện pháp "Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên" được cho là có tính khả thi cao nhất, cho thấy đây là giải pháp có thể triển khai ngay lập tức và ít gặp rào cản. Các biện pháp liên quan đến cải tiến kế hoạch, tăng cường chỉ đạo và đổi mới kiểm tra cũng được đánh giá là khả thi. Biện pháp "Đầu tư phương tiện kỹ thuật, kinh phí" được đánh giá có tính khả thi thấp hơn một chút, phản ánh khó khăn chung về nguồn lực ngân sách. Kết quả khảo nghiệm là cơ sở khoa học vững chắc để Sở GD&ĐT Bình Phước có thể tự tin triển khai áp dụng các giải pháp này vào thực tiễn.

5.1. Đánh giá tính cấp thiết của các giải pháp từ chuyên gia

Kết quả khảo nghiệm cho thấy 100% các chuyên gia và cán bộ quản lý đều nhận định rằng các biện pháp đề xuất là cần thiết để cải thiện công tác thanh tra TCCB. Biện pháp về xây dựng đội ngũ và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo được xem là "xương sống", có tác động lan tỏa đến các mặt công tác khác. Sự đồng thuận này cho thấy các giải pháp đã đánh trúng vào những vấn đề cốt lõi mà thực tiễn đang đặt ra.

5.2. Phân tích tính khả thi khi áp dụng các biện pháp vào thực tiễn

Mức độ khả thi cao của hầu hết các biện pháp cho thấy chúng hoàn toàn có thể được áp dụng trong điều kiện thực tế của tỉnh Bình Phước. Phân tích mối tương quan giữa sự cần thiết và tính khả thi cũng chỉ ra rằng các biện pháp quan trọng nhất cũng là những biện pháp có thể thực hiện được. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một lộ trình triển khai cụ thể, ưu tiên các giải pháp có tác động lớn và dễ thực hiện trước.

VI. Định hướng tương lai cho quản lý thanh tra cán bộ trường THPT

Trong bối cảnh ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện, quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ cũng cần có những bước chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu mới. Xu hướng tất yếu là chuyển đổi trọng tâm từ thanh tra mang tính sự vụ, chuyên môn đơn thuần sang thanh tra quản lý. Điều này có nghĩa là hoạt động thanh tra không chỉ tập trung vào việc phát hiện sai phạm mà còn phải hướng đến việc tư vấn, hỗ trợ, giúp các nhà trường hoàn thiện hệ thống quản trị, đặc biệt là quản trị nhân sự. Thanh tra phải trở thành một công cụ đắc lực giúp hiệu trưởng nâng cao năng lực quản lý, xây dựng môi trường làm việc dân chủ, công bằng và hiệu quả. Để hiện thực hóa định hướng này, cần có những khuyến nghị cụ thể. Đối với Sở GD&ĐT Bình Phước, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn về công tác thanh tra TCCB, làm rõ chức năng, nhiệm vụ và quy trình phối hợp. Cần xây dựng chiến lược dài hạn về phát triển đội ngũ thanh tra viên và cộng tác viên, đảm bảo tính kế thừa và chuyên nghiệp. Đối với các trường THPT, hiệu trưởng cần chủ động tăng cường công tác tự kiểm tra, xem đây là hoạt động thường xuyên để phòng ngừa sai sót, thay vì chờ đợi sự thanh tra từ cấp trên. Việc xây dựng một văn hóa chất lượng và minh bạch ngay từ cơ sở là nền tảng vững chắc nhất để nâng cao hiệu quả giáo dục, đáp ứng kỳ vọng của xã hội.

6.1. Xu hướng chuyển từ thanh tra chuyên môn sang thanh tra quản lý

Định hướng đổi mới công tác thanh tra là tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của bộ máy quản lý nhà trường. Thay vì chỉ kiểm tra hồ sơ, sổ sách, thanh tra cần xem xét cả quá trình ra quyết định, cơ chế vận hành và hiệu quả thực tế của công tác cán bộ. Mục tiêu cuối cùng là giúp nhà trường tự hoàn thiện, nâng cao năng lực quản trị, chứ không đơn thuần là xử phạt vi phạm.

6.2. Khuyến nghị cho Sở GD ĐT và các cấp quản lý liên quan

Sở GD&ĐT cần tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù để hỗ trợ và khuyến khích đội ngũ làm công tác thanh tra. Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động thanh tra, từ việc xây dựng cơ sở dữ liệu, lập kế hoạch đến theo dõi, xử lý sau thanh tra. Các trường THPT cần công khai, minh bạch các quy trình liên quan đến công tác tổ chức cán bộ để tạo sự đồng thuận và giám sát từ nội bộ.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề về quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác tổ chức cán bộ trường trung học phổ thông 1. Các nghiên cứu nước ngoài Ăngghen từng nói “mỗi hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người đều chứa đựng yếu tố của kiểm tra”.

Thanh tra, kiểm tra luôn gắn liền với quá trình lao động xã hội, từ bản chất của quá trình lao động xã hội đã đòi hỏi tính tất yếu phải có sự quản lý để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động của cơ chế sản xuất với sự vận động của các yếu tố khách quan, độc lập hợp thành cơ chế sản xuất đó. Thanh tra, kiểm tra gắn liền với quản lý nhà nước, các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới đã xác định thanh tra, kiểm tra là một trong bốn chức năng quản lý. Để khẳng định tầm quan trọng của công tác thanh tra, Lênin từng nói trước Đại hội XI - Đảng cộng sản Nga là “phải cải tổ Bộ Dân ủy thanh tra công nông. để tăng cường sự kiểm tra từ phía quần chúng nhằm tiêu diệt cái thứ cỏ dại - chủ nghĩa quan liêu”; theo Ăngghen “kiểm tra được xem như là phương thức hành động để thực hiện mục đích”.

Khi đề cập đến mục đích, nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra, Báo cáo chính trị Đại hội XI - Đảng cộng sản Nga, đã viết “chúng ta phải tổ chức kiểm tra nghiêm ngặt công tác của chúng ta. kiểm tra thật sự, đứng trên quan điểm của nền kinh tế quốc dân mà kiểm tra”;. và khi đề cập đến nội dung thanh tra, kiểm tra Lênin nói “phải kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta đã tuyên bố từng giờ, quyết định từng phút, từng giây .” Ngoài ra, một số nghiên cứu nước ngoài liên quan như: Theo tác giả RaJia RoySinh “Nền giáo dục thế kỷ XXI những triển vọng của Châu Á - Thái Bình 9 Dương”, tác giả V.A Xukhomlinxki: Muốn nâng cao hiệu quả quản lý thì phải dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy. Do đó, một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý là phải thường xuyên kiểm tra hoạt động sự phạm của giáo viên thông qua dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy.

Theo thuyết Xibecnêtic: công tác thanh tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý; nó giúp chủ thể quản lý một cách tối ưu hệ quản lý. Do vậy, thanh tra giáo dục sẽ giúp chủ thể quản lý giáo dục các cấp có được thông tin để điều chỉnh các khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá. Mặt khác, nhờ kết quả thanh tra đối tượng quản lý tự điều chỉnh ý thức hành vi và hoạt động của mình để tuân thủ quy định của ngành, địa phương và pháp luật nhà nước. Các nghiên cứu trong nước Ngày 29/10/1988, Bộ Giáo dục (nay là Bộ GD&ĐT) ban hành Quyết định số 1019/QĐ-BGD quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục; ngày 28/9/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 358/NĐ-HĐBT về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục; ngày 11/3/1993, Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục kèm theo Quyết định số 478/QĐ-BGDĐT ngày 11/3/1993; đến tháng 12/1998, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của thanh tra giáo dục đã được luật hóa từ Điều 98 đến Điều 103 của Luật Giáo dục và ngày 10/12/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 101/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục và tiếp tục được quy định cụ thể hơn tại Luật Giáo dục năm 2005 sau khi Quốc hội ban hành Luật thanh tra 2004, đồng thời ngày 18/8/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 85/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục (thay thế Nghị định 101/2002/NĐ-CP), hiện nay tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục được quy định tại Luật Thanh tra 2010 và Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục.

Bên cạnh đó Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 54/2012/TT- BGDĐT ngày 21/12/2012 quy định về cộng tác viên thanh tra giáo dục, Thông tư 39/2013/TT-BGDĐT ngày 04/12/2013 hướng dẫn về Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục, Thông tư số 31/2014/TT-BGDĐT ngày 16/9/2014 về sửa đổi, bổ 10 sung một số điều của Thông tư số 54/2012/TT-BGDĐT ngày 21/12/2012 quy định về cộng tác viên thanh tra giáo dục, Thông tư 24/2016/TT-BGDĐTngày 14/11/2016 về Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục, Chỉ thị số 5972/CT-BGDĐT ngày 20/12/2016 về việc tăng cường công tác thanh tra giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Các văn bản pháp luật và những quy định về thanh tra trong lĩnh vực giáo dục được Quốc hội, Chính phủ, Bộ GD&ĐT hướng dẫn cụ thể, hệ thống và hoàn thiện như trên đã nói lên được tầm quan trọng của thanh tra giáo dục đối với sự nghiệp đổi mới quản lý giáo dục của nhà nước. Ngoài ra, trong “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục” tác giả Đặng Quốc Bảo (1997) xác định: Kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều khiển mục tiêu. Vì vậy, ta có thể khảng định thanh tra, kiểm tra có tác dụng rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động QLNN nói chung, hoạt động QLGD nói riêng.

Quản lý đồng thời là kiểm tra. TTr, kiểm tra nằm trong bản thân sự hoạt động quản lý. Gần đây, một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục đã nghiên cứu về các biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thanh tra góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra giáo dục như: Tác giả Trương Văn Mâu (2006) với đề tài “Các biện pháp quản lý công tác thanh tra chuyên môn trung học phổ thông của Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Bình”, tác giả Nguyễn Quang Hưng (2015) với đề tài “Quản lý công tác thanh tra chuyên môn các trường THPT tại tỉnh Bình Phước” đã có những đánh giá về thực trạng quản lý của Sở GD&ĐT với công tác thanh tra chuyên môn các trường THPT, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế và đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh tra chuyên môn các trường THPT. Tác giả Nguyễn Thị Điệp (2009) với đề tài “Biện pháp xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Lê Văn Vương (2005) với đề tài “Biện pháp xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn cấp THPT tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2005-2010”, tác giả Trần Văn Thanh (2014) với đề tài “Quản lý đội ngũ cộng tác viên thanh tra giáo dục tỉnh Bắc Ninh” đã chỉ ra một số bất cập công tác xây dựng 11 đội ngũ cộng tác viên thanh tra giáo dục trên địa bàn và đề xuất một số giải pháp nhằm cải tiến công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra giáo dục trên địa bàn.

Nhìn chung các tác giả nêu trên chủ yếu đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ cộng tác viên thanh tra, công tác nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động thanh tra hoạt động sư phạm nhà giáo, thanh tra chuyên môn các trường THPT. Đối với công tác quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB nói chung và thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB các trường trung học phổ thông nói riêng, đặc biệt là trên địa tỉnh Bình Phước đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu. Xuất phát từ thực trạng trên, tôi nhận thấy công tác quản lý hoạt động thanh tra chuyên ngành về công tác TCCB các trường trung học phổ thông cần được khai thác, nghiên cứu, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác thanh tra chuyên ngành các trường THPT, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Một số khái niệm cơ bản 1.

Quản lý Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại; là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Theo tác giả Phạm Viết Vượng (2003), “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan”, theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012): "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức". Vậy, Quản lý là hệ thống những tác động gây ảnh hưởng, có chủ định, phù hợp quy luật khách quan chủ thể quản lý đến khách thể quản lý thông qua việc thực 12 hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm khai thác và vận dụng tốt nhất tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu chung của hệ thống trong một môi trường luôn biến động. Quá trình biến động thể hiện qua sơ đồ: MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý 1.

Chức năng quản lý Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012) "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. Vậy, chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý, có 04 chức năng cơ bản sau: - Chức năng kế hoạch Đây được xem là chức năng quan trọng nhất trong hoạt động quản lý. Để thực hiện chức năng này, nhà quản lý thiết kế (lập kế hoạch) trước các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt các mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu các nguồn lực, vật lực đã có và sẽ khai thác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ