Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học tại trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo tiếp cận nghiên cứu bài học tại trường tiểu học huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.vn c Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Thuật ngữ “NCBH” có nguồn gốc từ thời Meiji (1868-1912) trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, được sử dụng như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của GV thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể. SHCM theo tiếp cận NCBH cho đến nay vẫn phổ biến ở nhiều trường học tại Nhật Bản [6, tr. Nhấn mạnh tầm quan trọng của biện pháp dự giờ, phân tích bài học, các tác giả V.Xukhomlinxki và Xvecxlenrơ cho rằng: “Việc dự giờ và phân tích bài học là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý quá trình dạy học của GV.
Các tác giả cũng đề ra yêu cầu khi phân tích bài học phải nêu cho GV biết cách khắc phục thiếu sót, phát huy các mặt mạnh, nâng cao chất lượng bài giảng và quy trình phân tích một giờ dạy để giúp hiệu trưởng thực hiện có hiệu quả biện pháp quản lý hoạt động SHCM” [[dẫn theo 21], tr.Xukhomlinki cũng đã nêu rất cụ thể các bước tiến hành dự giờ, phân tích nội dung dạy học trong chương trình và sách giáo khoa: “Bước tiếp theo là hiệu trưởng dự giờ GV và cùng nhau dự giờ GV giỏi. Cứ như vậy, GV đã được hiệu trưởng dạy cho rất nhiều về phương pháp dạy học, về cách thức tổ chức dạy học để nâng cao trình độ học vấn của HS” [[dẫn theo 21], tr. Vưgotsky - nhà Tâm lý học người Nga đã nghiên cứu việc học tập của HS và phát triển năng lực chuyên môn của GV trong NCBH dựa trên cơ sở lý thuyết vùng phát triển gần. Theo lý thuyết này: “Nội dung dạy học chỉ có ý nghĩa khi nằm trong vùng phát triển gần của người học.
Do đó, nhiệm vụ của NCBH là xác định rõ vùng phát triển gần của HS để lựa chọn mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với HS. Mỗi lớp học thông thường có ba nhóm HS phân theo trình độ và năng lực học tập: HS khá, giỏi; HS trung bình; HS yếu, kém. Để dạy học hiệu quả, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học và kiểm tra, đánh giá phải có tác động tích cực đến cả ba nhóm đối tượng. Sự phân hóa trong dạy học ở đây bao gồm phân hóa theo mức độ nhận thức; phân hóa theo nội dung, nhiệm vụ học tập; phân hóa theo phong cách học tập; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn c phân hóa theo sản phẩm.
Do trình độ hiện tại của người học cũng như năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của GV không đồng đều nên rất cần sự nghiên cứu, chia sẻ NCBH. Giữa quá trình phát triển của người học với quá trình dạy học không diễn ra đồng thời. Cơ chế tác động của quá trình dạy học đến quá trình phát triển của cá nhân người học là rất phức tạp, cần được suy ngẫm, theo tinh thần NCBH” [[dẫn theo 17], tr. NCBH dựa trên lý thuyết vòng đối thoại, tác giả Mikhail Bakhtin cho rằng: “Con người học qua tương tác giữa các vòng tròn đối thoại.
Việc học hỏi của con người mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Con người sống, giao tiếp và học hỏi thông qua hệ thống tương tác đan xen, tương hỗ. Theo ý nghĩa đó, quá trình dạy học nói chung và việc học nói riêng không chỉ là sự tương tác theo chiều dọc giữa GV với HS mà còn có sự tương tác theo chiều ngang, giữa HS với HS, giữa HS với học liệu. Sự tương tác qua các vòng tròn đối thoại không những là công cụ vật chất mà còn là những công cụ tâm lý mạnh mẽ, thúc đẩy, tạo động lực cho việc học” [[dẫn theo 17], tr.
Mô hình bồi dưỡng GV thông qua SHCM theo tiếp cận NCBH cũng đã được nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Đức, Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Indonesia… nghiên cứu, áp dụng và đây là một trong những chủ đề giáo dục được quan tâm trên thế giới. Ở Việt Nam Từ đầu năm 2009, NCBH được vận dụng ở Việt Nam nhưng còn ít. Bộ GD&ĐT và JICA - Tổ chức phát triển hợp tác quốc tế của Nhật Bản đã triển khai dự án về “Tăng cường bồi dưỡng GV theo cụm trường và quản lý nhà trường ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2007”. Nhiều trường học đã áp dụng hình thức NCBH vào SHCM.
Từ năm 2007 đến năm 2009, Đại học Cần Thơ và Đại học Bang Michi-gan, Hoa Kỳ đã tiến hành một nghiên cứu nhằm vận dụng mô hình NCBH vào thực tiễn quản lý chuyên môn cấp tiểu học và THCS ở vùng khó khăn. Phương pháp này cũng bước đầu được áp dụng thử nghiệm ở một số trường tiểu học tại tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên và đã đem lại những kết quả khả quan, đã chứng minh được ưu thế của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của GV so với các phương pháp truyền thống. Trong những năm qua, đã có nhiều tác giả tiếp cận, nghiên cứu về quản lý hoạt động SHCM như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn c Tác giả Nguyễn Khai Tâm nghiên cứu “Một số biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởng nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập cho các HS THPT thị xã Sơn La” trong công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Luận văn đã đề cập đến biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởng về mục tiêu, nội dung, hình thức quản lý chuyên môn trong trường THPT.
Từ đó nghiên cứu thực trạng SHCM và quản lý SHCM của hiệu trưởng các trường THPT. Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập những nguyên nhân, hạn chế của thực trạng nên các biện pháp đưa ra chưa giải quyết triệt để hạn chế. Trong luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, tác giả Đinh Thị Tuyết Mai nghiên cứu vấn đề “Các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường THCS tỉnh Thái Nguyên”. Luận văn đã khát quát cơ sở lý luận quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng ở trường THCS; nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường THCS tỉnh Thái Nguyên, từ đó đưa ra một số biện pháp về mặt nhận thức, xây dựng kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn trong trường THCS phù hợp điều kiện các trường THCS tỉnh Thái Nguyên.
Tác giả Nguyễn Hữu Hùng nghiên cứu “Biện pháp quản lý chuyên môn của hiệu trưởng trường THPT Ngô Gia Tự tỉnh Bắc Ninh” trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục. Đề tài đã làm rõ thực trạng quản lý chuyên môn của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra chưa gắn liền với hạn chế của thực trạng. Mỗi đề tài đi sâu nghiên cứu một vấn đề, nhưng đa phần nghiên cứu chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý tổ chuyên môn của hiệu trưởng và TTCM theo hình thức truyền thống.
Đề cập đến NCBH có một số bài viết trên Tạp chí Giáo dục và Tạp chí Khoa học Giáo dục như: Trong Tạp chí Giáo dục số 235/2010 (tr. 58-59), tác giả Phạm Đức Bách đề cập vấn đề “Một số hình thức SHCM ở trường trung học cơ sở nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học”; Trong Tạp chí Giáo dục số 269/2011 (tr. 20-23), tác giả Vũ Thị Sơn đề cập vấn đề “Đổi mới SHCM theo hướng xây dựng văn hóa học tập ở nhà trường thông qua NCBH”; Trong Tạp chí Giáo dục số 268/2011 (tr. 32-33), tác giả Đặng Thị Hồng Doan đề cập vấn đề “Bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV tiểu học qua NCBH”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn c Những bài viết này đã đề cập đến cơ sở lý luận của NCBH, tuy nhiên các giải pháp đưa ra đối với từng cấp học chưa có sự đồng bộ và toàn diện. Năm học 2014 - 2015, Bộ GD&ĐT chỉ đạo triển khai đại trà SHCM theo tiếp cận NCBH tại tất cả các trường tiểu học trong toàn quốc. Đến nay chưa có đề tài nghiên cứu, đánh giá về thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý SHCM theo tiếp cận NCBH tại trường tiểu học. Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn góp phần hệ thống hóa lý luận và nghiên cứu thực trạng để đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động SHCM theo tiếp cận NCBH trong trường tiểu học.
Những khái niệm công cụ 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Khái niệm quản lý đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, sau đây tác giả xin được trích dẫn một số khái niệm về quản lý như sau: Tác giả Fayel định nghĩa: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [[dẫn theo 21], tr.
Tác giả Hard Koont cho rằng: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định" [[dẫn theo 21], tr. Tác giả Peter F Druker định nghĩa: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích" [[dẫn theo 21], tr. Tác giả Stephan Robbins quan niệm: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [[dẫn theo 21], tr.