Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên là một vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Có thể đưa ra một số nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề quản lí hoạt động nghiệp vụ sư phạm như sau: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Yến Thoa: Nghiên cứu về điều kiện rèn luyện nghiệp vụ sư phạm: Các tác giả như B.
đều thống nhất rằng: rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo đó chính là các tri thức và kinh nghiệm mà cá nhân đã lĩnh hội được trước đó. Muốn hình thành kỹ năng ở một lĩnh vực hoạt động nào trước tiên phải có tri thức về hoạt động đó. Trên cơ sở tri thức cộng với vốn kinh nghiệm đã có, nếu được luyện tập nhiều lần theo một định hướng nhất định sẽ cho các kỹ năng hành động như mong muốn Nghiên cứu về mức độ hình thành kỹ năng: Với công trình nghiên cứu “Hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục đại học” X.Kixegof đã phân tích khá sâu sắc khái niệm kỹ năng. Ông là người đầu tiên nêu lên sự phân biệt hai loại kỹ năng: kỹ năng bậc thấp (hay còn gọi là kỹ năng nguyên sinh) được hình thành qua các hoạt động giản đơn, nó là cơ sở hình thành kỹ xảo.
Kỹ năng bậc cao (kỹ năng thứ sinh) – mà cơ sở của nó là tri thức và các kỹ xảo Nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo: Tuy có quan niệm khác nhau nhưng các nghiên cứu đều cho rằng kỹ năng thường có liên quan đến việc vận dụng kinh nghiệm cũ trong việc thực hiện những hành động mới, trong những điều kiện mới. Còn kỹ xảo là những dạng hành vi đã được củng cố vững chắc đáp ứng những điều kiện hoạt động không thay đổi. Kỹ năng và kỹ xảo cùng được hình thành trên cơ sở luyện tập trong thực tiễn. 9 Nghiên cứu mối quan hệ giữa rèn luyện kỹ năng và năng lực: Các nhà khoa học thường đặt kỹ năng trong mối liên hệ với năng lực vì kỹ năng chính là một thành phần không thể thiếu của năng lực, kỹ năng và năng lực có quan hệ mật thiết với nhau.
Các tác giả như: Altet, M và J.Britten Altet, đều khẳng định: Muốn phát triển năng lực cần nắm vững tri thức và vận dụng sáng tạo những kỹ năng, kỹ xảo đã có vào hoạt động thực tiễn. Trong công trình nghiên cứu của Kixegof về “Hình thành các kỹ năng sư phạm”, tác giả đã vạch ra các kĩ năng cần thiết của giáo viên cần có, mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ cũng như việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên nhằm hình thành năng khiếu sư phạm thành năng lực sư phạm Các tác giả đều khẳng định rèn luyện kỹ năng phải được tiến hành thông qua hoạt động, được lặp lại nhiều lần với mức độ khó khăn ngày một cao, trong các tình huống sư phạm giả định và tình huống thực. Việc rèn luyện kỹ năng sư phạm nhất thiết phải thường xuyên được kiểm tra, điều chỉnh. Yếu tố tích cực rèn luyện của chủ thể quyết định trực tiếp đến hiệu quả quá trình rèn luyện này.
Trong nước Trong bài viết “Chất lượng giáo viên”, tác giả Trần Bá Hoành đưa ra các cách tiếp cận chất lượng giáo viên dựa trên nhiều góc độ khác nhau như đặc điểm lao động của người giáo viên, sự thay đổi chức năng người giáo viên trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng giáo viên, chất lượng từng giáo viên và chất lượng đội ngũ giáo viên; đồng thời tác giả cũng giới thiệu các thành tố tạo nên chất lượng giáo viên bao gồm phẩm chất người giáo viên và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng giáo viên. (Trần Bá Hoành ,1995) Các tác giả Phạm Trung Thanh, Nguyễn Thị Lí trong bài “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên” đã hệ thống các năng lực sư phạm cơ bản của người giáo viên thành 08 nhóm năng lực chính: tri thức về môn học và khoa học giáo dục, năng lực chẩn đoán, năng lực lập kế hoạch, năng lực triển khai kế hoạch giáo dục và dạy học, năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học, năng lực tự rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phát triển nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, năng lực hợp tác 10 (Phạm Trung Thanh, Nguyễn Thị Lí, 2003) Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc với bài “Nghề và nghiệp của người giáo viên” đã cho rằng vai trò người giáo viên hiện nay đã có những sự thay đổi để phù hợp với các chức năng của người giáo viên rộng hơn, đồng thời chứng minh được giáo viên chính là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đào tạo rèn luyện nghiệp vụ sư phạm giáo viên thông qua đổi mới chương trình đào tạo giáo viên, tăng cường yếu tố cạnh tranh chất lượng giáo viên, đào tạo giáo viên là trách nhiệm của Nhà nước và phải bằng chính sách đầu tư nguồn vốn chủ yếu từ nhà nước, tổ chức các hội nghị giữa các trường sư phạm với các địa phương. (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2005) Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên góp phần quan trọng gợi mở cho chúng tôi nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng” đảm bảo không trùng lặp, có ý nghĩa lí luận và mặt thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở trường cao đẳng sư phạm nói chung và quản lí hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng nói riêng. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường 1. Quản lí Nghiên cứu về quản lí có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lí, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lí, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lí (Đặng Quốc Bảo, 1997). Theo Từ điển Tâm lí học, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lí được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” (Vũ Dũng, 2000).Mác: “Quản lí là lao động điều khiển lao động”.
Mác đã coi việc xuất hiện quản lí như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại. Mác đã viết : “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một 11 quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân….Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” (C-Mác – Ăngghen, Toàn tập). Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lí) nhằm đạt được những mục tiêu dự kiến” (Nguyễn Ngọc Quang, 1998). Ngoài ra, theo từ điển Giáo dục học: “Quản lí là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” (Bùi Hiện - Nguyễn Văn Giao - Nguyễn Hưu Quỳnh - Vũ Văn Tảo, 2001).
Thuật ngữ “Quản lí” (tiếng Việt gốc Hán) đã lột tả được bản chất hoạt động QL trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “Lí” gồm sự tự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào hệ thống phát triển. Nếu người đứng đầu chỉ chăm lo đến việc“Quản” tức là chăm lo đến việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức ấy sẽ trì trệ, không phát triển. Tuy nhiên, nếu chỉ chăm lo đến việc “Lí” tức là chỉ lo đến việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững.
Vậy, để hoạt động QL có hiệu quả thì nên cân bằng giữa hai quá trình “Quản” và “Lí”. Có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng của hệ thống để đạt được mục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lí giáo dục Trong lịch sử phát triển của khoa học thì khoa học quản lý giáo dục ra đời muộn hơn khoa học quản lý kinh tế. Vì thế, trong các nước Tư bản chủ nghĩa người ta thường vận dụng lý luận quản lý một xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và coi quản lý cơ sở giáo dục như quản lý một xí nghiệp đặc biệt.
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nó xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm quản lý giáo dục như sau: Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả 12 các khâu của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục chủ nghĩa Cộng sản cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của CNXH, cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên” (Đặng Quốc Bảo, 1997). Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau, đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống vận hành tối ưu.
Đảm bảo sự phát triển mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục” (Trần Kiểm, 2011).