Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở trung tâm giáo dục thường xuyên Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung Tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trung Tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) là tổ chức quốc tế lớn nhất dành sự quan tâm, sâu sắc đến giáo dục, đào tạo, hiệu quả và chất lượng của giáo dục và đào tạo. Các nghiên cứu, cẩm nang hướng dẫn, chương trình hợp tác, dự án phát triển của UNESCO khá nhiều, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống, chất lượng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo, năm 2013, UNESCO xuất bản cuốn “UNESCO Handbook on Education Policy Analysis and Programming (Cẩm nang phân tích chính sách và kế hoạch hóa giáo dục). Theo UNESCO, lĩnh vực giáo dục và đào tạo dường như quá rộng lớn và phức tạp nếu muốn phân tích nó.
Cẩm nang này của UNESCO đề xuất một phương pháp hệ thống và cấu trúc hóa nhằm hỗ trợ việc phân tích các chính sách giáo dục và đào tạo cũng như kế hoạch hóa lĩnh vực này để tăng cường khả năng tiếp cận, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, giải quyết các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực đối với mọi cấp trình độ cũng như loại hình giáo dục, đào tạo của mỗi quốc gia. Cẩm nang cung cấp khung lý thuyết cho việc phân tích chính sách, hoạch định kế hoạch, khuyến khích sự đối thoại chính sách giữa các cơ quan chính phủ với các đối tác phát triển; từ đó đưa ra các hướng dẫn từng bước phân tích chính sách và hoạch định chương trình giáo dục và đào tạo. Hiệp hội phát triển giáo dục (Development Education Association) Vương quốc Anh là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động vì mục tiêu phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực của các thành viên hiệp hội, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo nghề. 7 Năm 2001, Hiệp hội nghiên cứu và công bố xuất bản tác phẩm với tên gọi “Measuring effectiveness in development education.
Nghiên cứu này đưa ra các nguyên tắc khi phân tích, đánh giá một hệ thống giáo dục; các mục tiêu đánh giá, đo lường hiệu quả; định nghĩa các khái niệm về đánh giá, hiệu quả, tác động lan tỏa, các chỉ số đo lường hiệu quả; các cấp độ hiệu quả: cấp độ cá nhân người học; cấp độ cơ sở giáo dục, đào tạo; cấp độ đầu tư của nhà nước; cấp độ hiệu quả nền trên toàn bộ bình diện nền kinh tế và bình diện xã hội. Ngoài ra còn có các hướng nghiên cứu kết hợp đánh giá tới chất lượng của các mô hình, cơ sở đào tạo khác nhưng có thể nhận thấy đều đề cập đến nội dung cơ bản của việc đào tạo như tầm quan trọng, kế hoạch, phương pháp đào tạo… và được các tổ chức cá nhân nghiên cứu dưới các góc độ và khía cạnh khác nhau để phù hợp, gắn liền với bối cảnh xã hội thực tiễn.2 Ở Việt Nam GDTX là cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. từ đó, thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con người. Khi nguồn tài nguyên này được nâng lên sẽ tác động đến việc phát triển kinh tế xã hội.
Chính vì vậy, xu thế phát triển GDTX là tất yếu. GDTX ngày càng được khẳng định là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục của các nước… Đây được coi là “Chìa khóa” để bước vào thế kỷ 21. Vậy nên, nhiều ngành khoa học đã dự báo thế kỷ 21 là “Thế kỷ của GDTX”. Trong thực tiễn, giáo dục không chính quy và GDTX đã được triển khai từ những năm 1945 sau đó phát triển khá mạnh mẽ trong từng giai đoạn.
Giai đoạn 1945 - 1959 phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa. Giai đoạn 1959 - 1989, chuyển trọng tâm sang nâng cao trình độ học vấn cho người lớn - người lao động và được gọi là hệ thống Bổ túc văn hoá. Giai đoạn 1989 - 1993 thời kỳ giáo dục bổ túc, mục tiêu chủ yếu là đáp ứng nhu cầu nhiều mặt và thường xuyên của nhân dân. Từ năm 1993 đến nay, sự ra đời của các Trung tâm GDTX cấp tỉnh, cấp huyện đã trở thành hệ thống giáo dục và đào tạo thường xuyên, cung cấp cơ hội học tập cho mọi người.
8 Ngày 24/11/1993 Chính phủ đã có Nghị định số 90/CP về cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam công nhận GDTX là một trong 5 thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân có chức năng: Dạy BTVH, dạy nghề., dạy ngoại ngữ, dạy tin học, dạy các chuyên đề đáp ứng theo nhu cầu người học … Năm 1998 Luật Giáo dục ra đời, theo đó thì GDTX trước đây nay đổi thành phương thức giáo dục không chính quy (GD KCQ). Chức năng nhiệm vụ GDKCQ được thực hiện như GDTX. Luật giáo dục 1998 (Quốc hội thông qua ngày 24/11/1998) coi “Giáo dục không chính quy là một phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội" [33]. Năm 2005, Luật giáo dục (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) tại khoản 1 điều 4 quy định: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”[34] Nghị quyết số 73/NQ-HĐBT năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng đã cho phép thành lập trung tâm đào tạo, bồi dưỡng tại chức tỉnh trên cơ sở các tổ chức đa dạng ở địa phương đã hình thành từ trước.
Đây là một mô hình cơ sở giáo dục mới dựa trên sự liên kết của các trường ĐH với các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh. Đây là một quyết định rất quan trọng, tạo một bước tiến công tác đào tạo bồi dưỡng đại học hình thức vừa học vừa làm, học từ xa. Hoạt động liên kết đã để lại những kinh nghiệm thiết thực nâng cao vai trò các trung tâm GDTX trong đào tạo liên kết ở các bậc học, cấp học hình thức học khác nhau. Các báo cáo tổng kết giáo dục thường xuyên hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề cập đến công tác quản lý các lớp đại học, cao đẳng TCCN, theo hình thức liên kết, nhưng còn rất ít công trình nghiên cứu có hệ thống, có thực nghiệm tại một cơ sở giáo dục cụ thể.
9 Nghiên cứu về quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở TTGDTX cũng đã có một số công trình nghiên cứu như: "Một số kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác tạo nguồn tuyển sinh các lớp liên kết đào tạo tại TTGDTX tỉnh Thanh Hóa" của tác giả Trịnh Thị Mai năm 2017.[31] Tác giả Lâm Thanh Vĩnh với công trình nghiên cứu: “Quản lý hoạt động đào tạo theo phương thức liên kết ở các trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Bình” năm 2016 [41] Tác giả Đỗ Trọng Cừ với công trình nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học theo chuyên đề cấp THPT ở trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên huyện Thanh Thủy, Tỉnh Phú Thọ” năm 2017 [11] Tác giả Đào Thị Lê với công trình nghiên cứu “Quản lý đào tạo liên kết ở trường trung cấp với doanh nghiệp” năm 2017 [29] Tác giả Nguyễn Thị Hòa với luận văn nghiên cứu "Quản lí hoạt động liên kết đào tạo hệ vừa học vừa làm tại Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Nam Định " [22] Tác giả Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Thu Hằng với bài báo "Xây dựng mạng lưới liên kết trong hoạt động đào tạo giáo viên của các trường / khoa sư phạm "[15] Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu về thực trạng quản lý hoạt động đào tạo và đề xuất một số biện pháp về quản lý hoạt động liên kết đào tạo trong các đơn vị có tính đặc thù riêng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề Quản lý hoạt động liên kết đào tạo Đại học ở TTGDTX tỉnh Thanh Hóa 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất của con người.
Nó phản ánh sự nhận thức của con người đối với tự nhiên, môi trường và xã hội xung quanh. 10 Thuật ngữ “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Cụ thể: - Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Chính mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[32].
- Tác giả Nguyễn Văn Lê: “ Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [30]. - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”(Đại cương khoa học quản lí) [10]. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [35] Tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất.