Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, vấn đề về giáo dục cho người lớn tuổi đã dược quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến tận cuối thập niên 50 của thế kỷ trước thì đào tạo chính quy cơ bản vẫn là hình thức duy nhất trong hệ thống giáo dục và đào tạo toàn cầu. Bước vào nửa sau của thế kỷ thì tình hình đã đổi khác, đứng trước yêu cầu cấp bách của xã hội về nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội thì nền giáo dục thế giới phải có những cái nhìn mới về cách thức đào tạo.
Đào tạo chính quy tại các trường đại học không thể đáp ứng đủ nhu cầu học tập cũng như đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội phát triển. Vấn đề đã trở thành cấp thiết và mang tính toàn cầu như nhận định của Ph.Combs trong cuốn sách “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế giới” xuất bản năm 1968, khi ông chỉ ra những vấn đề lớn của giáo dục đương đại, đó là: - Nhu cầu học tập của mọi người là rất lớn, hiện giáo dục trung tâm không đủ đáp ứng nhu cầu này. - Học vấn mà người học được trung tâm trang bị (thậm chí cả trong trường đại học) còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. - Kiến thức học trong trung tâm còn quá ít ỏi và bị lạc hậu rất nhanh so với yêu cầu của sự phát triển.
Năm 1972, Edgar Farue - Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo dục (thuộc UNESCO) trong báo cáo với nhan đề “Học để tồn tại: thế giới 6 giáo dục hôm nay và ngày mai” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, với các khái niệm quan trọng là “Học suốt đời” và “Tính phù hợp”. Với việc đặt giáo dục cho đối tượng người lớn tuổi trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời, khái niệm “xã hội học tập” được nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đưa ra bàn luận và kết quả tất yếu là quan niệm về giáo dục đã được mở rộng hơn: Giáo dục người lớn tại địa phương phải được coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với trung tâm chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Đây là định hướng cho cải cách giáo dục giai đoạn này. Điều này có thể giải thích qua việc phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội lúc đó: Thứ nhất, sự phát triển của nền kinh tế cùng với vai trò ngày càng tăng của khoa học - công nghệ trong phát triển kinh tế tạo nên nhu cầu lớn về quy mô và chất lượng của nguồn nhân lực, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo giai đoạn sau luôn phải vượt xa giai đoạn trước đó.
Thứ hai là nhu cầu ngày càng gia tăng trong việc được học tập, được đào tạo và đào tạo lại của đông đảo quần chúng. Một khi nền kinh tế phát triển, mức sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về nâng cao dân trí, mở rộng hiểu biết của mọi người ngày càng trở nên cấp thiết. Hơn nữa, trong một thời đại mà kiến thức của nhân loại thay đổi từng ngày từng giờ và cơ hội tìm kiếm việc làm, cơ hội mưu sinh không tách rời cơ hội giáo dục - đào tạo thì nhu cầu được đào tạo và đào tạo lại, trang bị và nâng cao kiến thức nghề nghiệp đã bùng nổ một cách hết sức đa dạng và phong phú. Trong báo cáo UNESCO năm 1996 với nhan đề “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn”, UNESCO đã xem xét vấn đề giáo dục suốt đời như là việc học tập dựa trên bốn trụ cột: “Học để biết, Học để làm, Học để cùng chung sống, Học để tồn tại”.
Đây cũng chính là kim chỉ nam cho giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng khi tiến vào thế kỷ XXI. 7 Giáo dục nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới.
Mục tiêu của Giáo dục thường xuyên trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 là: Phát triển giáo dục thường xuyên tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình, bước đầu hình thành xã hội học tập. Chất lượng giáo dục thường xuyên được nâng cao, giúp người học có kiến thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần. Từ trước đến nay, đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu đề cập tới quản lý đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm GDTX. Các công trình nghiên cứu trên mới chỉ được đề cập trong khuôn khổ các bài báo hoặc tạp chí của ngành giáo dục.
Cho đến nay, quản lý đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm GDTX tỉnh vẫn còn tùy thuộc vào từng địa phương, từng nhà trường, từng ngành và chưa mang tính thống nhất, tính pháp lý bắt buộc. Chất lượng quản lý đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học còn có rất nhiều vấn đề phải bàn. Nhưng trên thực tế, hoạt động đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học của các cơ sở giáo dục ở các tỉnh với các trường Đại học đã, đang phát triển và tồn tại khách quan đáp ứng nhu cầu cần thiết và cấp bách của xã hội. Trong những năm gần đây, có một số cơ sở giáo dục cấp tỉnh đã tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học để nâng cao chất lượng đào tạo các lớp đại học hệ vừa làm vừa học, như các luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của các tác giả: - Đỗ Văn Hạ (2003), “Một số biện pháp đổi mới quản lý công tác đào 8 tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học tại chức ở Trung tâm GDTX tỉnh Hải Phòng”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, Hà Nội.
- Đỗ Quốc Anh (2013), “Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo tại Trung tâm đào tạo bồi dưỡng tại chức tỉnh Lâm Đồng”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, Quy Nhơn. - Đặng Tấn Đạt (2015), “Biện pháp quản lý công tác liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm – vừa học tại Trung tâm GDTX tỉnh Bình Phước”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, Huế. - Vũ Thị Bích Liên (2015), “Quản lý hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Điện Biên”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của các đề tài luận văn thạc sĩ trên đây, đã nêu lên những biện pháp quản lý hoạt động đào tạo khá đồng bộ, giúp cho các cơ sở giáo dục vận dụng vào công tác quản lý của mình.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể về quản lý hoạt động liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bình Định cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Vì vậy, đề tài “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bình Định” là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, chức năng quản lý 1.
Quản lý Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt 9 được mục đích của tổ chức. Hiện nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.9] Có nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý như sau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.30] Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.8] Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội những hành vi hoạt động của con người, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích theo ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Chức năng quản lý Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý.
Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Hầu hết các tác giả đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó, thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý. - Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ trương, chương trình, dự án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các 10 chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch.
Trong quản lý, đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức.