Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường cho học sinh THPT. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường cho học sinh THPT thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử trong nhà trường cho học sinh THPT thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG NHÀ TRƢỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Văn hóa, văn hóa nhà trường, văn hóa ứng xử,… đều là những nội dung đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế gới. Nói về văn hóa, vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A.
Klukhohn đã viết một cuốn sách “Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa” (Culture: a critical review of concepts and definitions), hai tác giả đã nghiên cứu về văn hóa, từ đó dẫn ra và phân tích 164 định nghĩa về văn hóa, trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này số định nghĩa về văn hóa tăng lên trên 200 [60]. Hai tác giả Kytle và Bogotch, khi tìm hiểu về hiệu quả cải cách của nhà trường thông qua một mô hình về văn hóa đã cho rằng: “Sự phát triển của nhà trường một cách bền vững phải dựa trên sự xây dựng văn hóa nhà trường. Xây dựng văn hóa nhà trường là xây dựng hệ giá trị các chuẩn mực và nguyên tắc hoạt động của nhà trường, xây dựng phong cách ứng xử văn minh giữa các bộ phận, cá nhân trong nhà trường [16].Swartz, ứng xử văn hóa: những ảnh hưởng tích cực và những vấn đề nảy sinh (Cultural behavior: genetic effects and related problems) đã nghiên cứu một cách chi tiết về văn hóa ứng xử ở các cấp độ, biểu hiện, sự hình thành và phát triển. Theo tác giả, văn hóa ứng xử bao gồm 3 cấp độ: thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình, thứ hai: Hệ thống giá trị được tuyên bố, thứ ba: Những quan niệm chung [61].
Ở Việt Nam Trong những năm gần đây, ngoài những công trình nghiên cứu về văn hóa, đạo đức, lối sống, văn hóa nhà trường, thì cũng có một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử. Năm 1996, tác giả Trần Ngọc Thêm với cuốn “Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam”, ông đã hệ thống được văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, ngoài ra ông cũng đề cập đến văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội [43; tr 376-606]. Tác giả Lê Thị Bừng (1997) trong cuốn “Tâm lý học ứng xử” đã chỉ ra những biểu hiện của ứng xử học đường. Đó là sự ứng xử trong mối quan hệ HS - HS, thầy - thầy, thầy - trò, thầy - cha mẹ HS.
Đạo đức là yếu tố căn bản làm nên sự khéo léo ứng xử của GV, qua đó thể hiện nghệ thuật sư phạm. Yếu tố đạo đức được thể hiện qua lòng yêu thương hết mực HS, qua sự tôn trọng nhân cách và tự do của các em, qua niềm tin tưởng mạnh mẽ vào bản chất tốt đẹp và khả năng to lớn của thanh thiếu niên, qua những phẩm chất tốt đẹp khác của GV. Những phẩm chất đạo đức này giúp cho người GV cảm hóa được HS, gần gũi được với các em” [6; tr 65]. Tác giả Nguyễn Tất Thịnh (2006) với cuốn “Bàn về văn hóa ứng xử của người Việt Nam”, ở phần 4 - Văn hóa ứng xử, tản mạn cùng bạn đọc đã phân tích, nói lên những nhược điểm, mâu thuẫn, thói xấu trong tập tính của người Việt Nam và tác giả cũng chia sẻ những suy nghĩ của mình về những điều đó và mong muốn mọi người nên giữ gìn những điều tốt đẹp trong quan hệ, giao tiếp, ứng xử giữa người với người một cách chân thành, tự nhiên [44].
Tác giả Lê Văn Quán (2007) trong cuốn “Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt Nam” đã nêu lên các bình diện và phương châm ứng xử của người Việt theo nhân cách chân, thiện, mỹ [39]. Theo tác giả Phạm Thế Hùng (2011) trong cuốn “Văn hóa ứng xử và bí quyết trẻ lâu, sống lâu” thì bản chất của văn hóa ứng xử gồm hai chữ tâm và 9 nhẫn, tâm có nghĩa là tình cảm, ý chí; nhẫn là sự nhẫn nhịn, nhường nhịn. Tác giả cũng cho rằng văn hóa ứng xử được biểu hiện qua hai hình thái, đó là văn hóa nói và văn hóa hành động. Có bốn cách nói: bằng miệng, bằng mắt, bằng tay và bằng chữ.
Nói bằng miệng là quan trọng nhất và văn hóa nói nối liền với văn hóa nghe. Văn hóa hành động biểu hiện qua động tác, tác phong, hành vi. Như vậy theo tác giả văn hóa ứng xử thể hiện trong lời ăn tiếng nói, trong cách giao tiếp hàng ngày [21]. Trong cuốn “Văn hóa ứng xử và nghệ thuật giao tiếp nơi công sở” của tác giả Thùy Linh và Việt Trinh (2013) gồm 6 phần, trong đó các tác giả đã chia sẻ với bạn đọc về kỹ năng ứng xử với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới và văn hóa ứng xử học đường [27].
Tác giả Phạm Phương Thảo (2018) với cuốn “Chuyện về ứng xử văn hóa” bằng thể văn chính luận đã giãi bày những câu chuyện văn hóa ứng xử nơi công sở, công cộng, gia đình, nhà trường, với môi trường và ngoài xã hội. Qua tác phẩm này, tác giả đã truyền tải thông điệp cùng vun bồi những giá trị sống tốt để cuộc sống của con người ngày càng tươi đẹp hơn [45]. Ngoài ra còn có thể kể đến những công trình nghiên cứu khác về văn hóa, ứng xử, văn hóa ứng xử của các tác giả: Trần Thúy Anh “Ứng xử văn hóa trong du lịch”, Nguyễn Viết Chức “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội hiện nay”, Ngô Công Hoàn “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em”, Đỗ Long “Tâm lý học với văn hóa ứng xử”, Trần Quốc Vượng “Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy nghĩ”,… và còn có các công trình nghiên cứu dưới dạng các chuyên đề khoa học, bài tạp chí, bài báo, luận án, luận văn cũng đề cập đến văn hóa ứng xử. Tác giả Đoàn Thị Hồng Hiệp trong bài báo “Giáo dục rèn luyện ứng xử có văn hóa cho HS các trường THPT hiện nay” đã nêu lên tầm quan trọng của việc giáo dục, rèn luyện VHƯX cho HS và cho rằng đây là một quá trình tổng hợp tác động của nhiều yếu tố nhằm bồi dưỡng truyền thụ tri thức, định hướng suy nghĩ, thái độ, hành vi của họ từ những biểu hiện 10 lệch chuẩn văn hóa đến từng bước có suy nghĩ, thái độ, hành vi ít lệch chuẩn mang tính bền vững, tự nhiên trong giao tiếp ứng xử của HS [19; tr 22].
Những công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đều làm rõ khái niệm, bản chất, biểu hiện, tầm quan trọng của văn hóa, ứng xử, VHƯX với các bình diện khác nhau, tuy nhiên vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục VHƯX trong nhà trường cho HS THPT, vì vậy chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục VHƯX trong nhà trường cho HS THPT thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình”. Một số khái niệm cơ bản 1. Văn hóa ứng xử * Văn hóa Qua nhiều thế kỷ, nhiều học giả đã nghiên cứu về nghĩa của từ “văn hóa”. Một trong những người đầu tiên quan tâm đến khái niệm “văn hóa” là triết gia Lưu Hướng (thời Tây Hán).
Theo ông, văn hóa là lấy cái đẹp để giáo hóa con người, chứ không dùng vũ lực để đối phó. Theo từ điển Triết học của Nga: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội” [46; tr 12]. Theo Tổ chức Văn hóa, Giáo dục, Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO): “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [57; tr 12].
Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và 11 phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [18; tr 431]. Cả hai khái niệm văn hóa của UNESCO và Hồ Chí Minh đều cho thấy, văn hóa là sản phẩm của loài người và văn hóa bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [35; tr 1100]. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [43, tr 27]. Tác giả Trần Quốc Vượng quan niệm: “Văn hóa theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế…để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ ấy, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [59; tr 35-36]. Tâm lí học định nghĩa “văn hóa” là hành vi, hành động, thái độ của con người.
Vì vậy bên cạnh giáo dục tri thức, kỹ năng, phải đặc biệt coi trọng giáo dục các thái độ mà ta gọi chung là nhân cách văn hóa [46; tr 14].