đặt vấn đề nghiên cứu quá trình quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ của nhà trường đáp ứng nhu cầu đổi mới của ngành học, sự tin yêu của nhân dân. Lý luận chung về quản lý giáo dục 1. Khái niệm Quản lý Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có thể nêu một số định nghĩa như sau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [23] Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”[29] 9 z Từ nhiều cách diễn đạt khái nhiệm về quản lý khác nhau, quản lý được hiểu là: quản lý là một quá trình tác động có định hướng, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến bộ trạng thái về chất” [15] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [1] Từ những khái niệm quản lý trên ta có thể quan niệm quản lý giáo dục là: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu giáo dục đã định. Quản lý nhà trường Nhà trường là tế bào của Hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện nhiệm vụ chuyên trách giáo dục và đào tạo cho học sinh nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Nhà trường là nơi tổ chức thực hiện và quản lý quá trình giáo dục. Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin…) nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới mục tiêu giáo dục đề ra. 10 z Quản lý chương trình GDMN Chương trình giáo dục mầm non thể hiện mục tiêu giáo dục mầm non; cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi mầm non. Chương trình GDMN được biên soạn theo hướng chương trình khung cấp quốc gia.
Chương trình được thiết kế với các thành tố như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cách đánh giá kết quả học tập, điều kiện thực hiện chương trình. Quản lý chương trình giáo dục ở trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến cán bộ, giáo viên để họ tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo chương trình GDMN nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ phát triển toàn diện. Chức năng của quản lý giáo dục QLGD có 4 chức năng cơ bản sau: - Chức năng kế hoạch hóa - Chức năng tổ chức - Chức năng chỉ đạo thực hiện - Chức năng kiểm tra Có thể khái quát mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và vai trò của thông tin trong chu trình quản lý bằng sơ đồ như Hình 1.1 dưới đây [19] : Chức năng Chức năng Chức năng Chức năng kế hoạch hóa Tổ chức lãnh đạo kiểm tra Thông tin phục vụ quản lí Hình 1. Chu trình quản lý Trong bốn chức năng trên, chức năng kế hoạch hóa là nền tảng của quản lý, là giai đoạn đầu tiên của quá trình quản lý.
Chức năng kế hoạch hóa trong 11 z QLGD là quá trình xác định các mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là: một là, xác định và hình thành mục tiêu QLGD đối với cở sở giáo dục; hai là, xác định và đảm bảo chắc chắn về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu đề ra; ba là, quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Chức năng tổ chức trong chu trình quản lý là giai đoạn đưa vào thực hiện những ý tưởng đã được kế hoạch hóa để từng bước đưa nhà trường tiến đến mục tiêu đề ra. Chức năng tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của cơ sở giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhà quản lý sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả và có kết quả. Chức năng chỉ đạo là sự chỉ huy, hướng dẫn, tác động để bộ máy hoạt động, đây chính là quá trình tác động của nhà quản lý, sau khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu của tổ chức đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng. Thực hiện tốt chức năng này người quản lý phải biết phối hợp, gắn kết giữa các thành viên lại với nhau, có hình thức, phương pháp động viên khích lệ để họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu mà nhà trường đã đề ra, xong trong quá trình hoạt động có điều chỉnh và thúc đẩy.
Chức năng kiểm tra: đây là chức năng cơ bản và rất quan trọng của quản lý, lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Kiểm tra nhằm nắm tình hình hoạt động của bộ máy, giám sát các thành quả của hoạt động và tiến hành sửa chữa, uốn nắn, điều chỉnh hoạt động của bộ máy theo mong muốn của nhà lãnh đạo để đạt được mục tiêu đề ra. Kiểm tra không những giúp cho việc đánh giá thực chất tình hình các hoạt động của nhà trường sau khi kết thúc một kế hoạch đặt ra mà nó còn có tác dụng nhà quản lý chỉnh sửa mục tiêu chuẩn bị cho năm học sau. Quá trình kiểm tra là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: 12 z - Nhà quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.
- Nhà quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với những chuẩn mực đã đặt ra. - Nhà quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch. - Nhà quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. Nội dung của quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khoa học, không những phải xem xét chủ thể quản lý làm những gì, mà còn phải xem xét những tác động từ các chủ thể quản lý hướng vào đâu.
Nói cách khác cần phải xem xét các thành tố của một hệ thống trên phương diện quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Trên phương diện quản lý vĩ mô, quản lý giáo dục là quản lý bao gồm giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục bởi các cơ quản quản lý (Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp.) và của những người đứng đầu các cơ sở giáo dục. Ở cấp vĩ mô có thể thấy QLGD là quản lý 6 yếu tố chủ yếu: nhà trường, người dạy, người học, cơ sở vật chất, tài chính và quá trình giáo dục. Trên phương diện quản lý vi mô, thực chất QLGD bao gồm các thành tố sau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, người dạy, người học, cơ sở vật chất – thiết bị, hình thức tổ chức giáo dục và kết quả giáo dục (hay đầy đủ hơn là tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục) Dù tiếp cận theo phương diện nào thì quản lý giáo dục cũng nhằm thực hiện những mục tiêu chính: - Thứ nhất, bảo đảm thực hiện tốt các kế hoạch phát triển và hoàn chỉnh hệ thống giáo dục; - Thứ hai, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của nhà trường/ cơ sở giáo dục theo quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện đầy đủ kế hoạch đào tạo, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục trên cở sở phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt, cố vấn của người dạy, tính tích cực chủ động sáng tạo của người học; 13 z - Thứ ba, bảo đảm việc huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; - Thứ tư, tạo nên và bảo đảm sự cân đối giữa nhiệm vụ giáo dục và các điều kiện vật chất cho việc thực hiện.
Quản lý giáo dục phải thường xuyên giải quyết cân đối và kết hợp trong các mối quan hệ sau: Sự cân đối và kết hợp thống nhất giữa giáo dục và dạy học, giữa lý luận và thực hành, giữa phát triển trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, giữa dạy chữ với dạy người và giáo dục kỹ năng sống.; sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục nhà trường – gia đình – xã hội; giữa địa phương và ngành; giữa các bộ phận, các nhân trong nhà trường để tạo ra môi trường sư phạm thuận lợi cho giáo dục [17]. Trong phạm vi đề tài, tác giả tiếp cận nội dung quản lý giáo dục trên phương diện quản lý vi mô.