phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động giáo dục trẻ mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non Ánh Dương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non Ánh Dương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.
Một số nghiên cứu trên thế giới Khi tiến hành nghiên cứu về các hoạt động giáo dục cho trẻ mầm non, trên thế giới đã có khá nhiều các nhà giáo dục học đi sâu vào đề tài này như: Giáo sư Glenn Doman (1919 – 2013), Ông tốt nghiệp chuyên ngành Liệu pháp tâm lý năm 1940 tại Trường Đại học Pennsylvania, sau là người sáng lập nên “Viện nghiên cứu và phát triển tiềm năng con người” mà chính từ đây các cha mẹ trên toàn thế giới đã tìm ra phương pháp nuôi dạy con trong hơn nửa thế kỷ qua. Giáo sư và các cộng sự trong Viện nghiên cứu nổi tiếng với những thành tựu về trẻ bị tổn thương não và cả những thành tựu về việc phát triển sớm cho trẻ em bình thường. Trong bộ sách "Giáo dục sớm và Thiên tài" của ông gồm 5 cuốn: Dạy trẻ thông minh sớm; Dạy trẻ biết đọc sớm; Dạy trẻ học Toán; Tăng cƣờng trí thông minh của trẻ; Dạy trẻ về thế giới xung quanh của mình Glenn Doman đưa ra lý thuyết và hướng dẫn các bậc phụ huynh áp dụng việc chơi với trẻ nhỏ để qua đó dạy cho trẻ những kiến thức bổ ích được trẻ tiếp nhận một cách thú vị. Hay nói cách khác phương pháp giáo dục Glenn Doman thực hiện phương pháp chơi mà học, học mà chơi vô cùng hiệu quả.
Trẻ sẽ hoàn toàn được tự do khám phá những kiến thức trong những giờ chơi cùng bố mẹ và ghi nhớ nó theo cách của riêng mình. [14] Tiến sĩ Maria Montessori (1879-1952), nhà giáo dục, bác sĩ người Ý với phương pháp giáo dục thực tiễn mang tính đột phá đã nhanh chóng được phổ biến và thu được thành công vang dội trên khắp thế giới. Mục tiêu giáo dục của Montessori là tạo điều kiện tối đa để trẻ trau dồi niềm đam mê học hỏi, thông qua thực hành thường xuyên để hình thành các kỹ năng và phát 6 z triển năng khiếu toàn diện cho từng bé. Nền tảng của phương pháp Montessori là tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua trực quan sinh động, trong đó, giáo viên chỉ đóng vai trò là “người hướng dẫn”, hỗ trợ và định hướng cho trẻ thực hiện các hoạt động, nhiệm vụ được giao.
Sự hướng dẫn này liên quan chặt chẽ đến các phụ huynh trong việc giáo dục con em mình, do đó, mối liên kết giữa giáo viên – các bé – gia đình cần được chú trọng. Trong các cuốn sách của bà đã được dịch sang tiếng Việt gồm có Trẻ thơ trong gia đình; Bí ẩn tuổi thơ; Phƣơng pháp giáo dục Montessori. Bà đã đưa ra một loạt các quy luật có liên quan đến sự phát triển của trẻ mầm non cụ thể là theo bà, quá trình phát triển trẻ em có nhiều giai đoạn. Trong đó 0-6 tuổi là giai đoạn thứ nhất.
Theo bà, trong giai đoạn này (chính là giai đoạn trẻ mầm non) trẻ không có các hoạt động tâm lý ý thức mà chúng chỉ tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách vô thức. Bà gọi đây là giai đoạn "phôi thai tâm lý". Từ 3-6 tuổi là giai đoạn hình thành tính cách. Trẻ em chuyển dần từ vô thức sang có ý thức, khả năng ghi nhớ, hiểu, tư duy dần hình thành.
Mối liên hệ giữa các hoạt động tâm lý cũng từng bước được tạo lên theo đó các đặc điểm tâm lý tính cách của trẻ cũng xuất hiện. Lúc này, các nhà giáo dục, thầy cô giáo và cha mẹ cần phải quan sát trẻ thật kỹ, tìm cách hiểu được thế giới nội tâm của trẻ, phải yêu thương và sự tôn trọng đối với tính cách của trẻ để giúp cho trẻ có thể phát triển một cách tự nhiên. [21] Giáo sư Makoto Shichida (1929-2009) là một nhân vật có uy tín lớn ở Nhật Bản, ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng cho những đóng góp của mình đối với nền giáo dục mầm non. Năm 1978, ông đã thành lập Viện Giáo Dục Trẻ Em Shichida (Nhật Bản).
Phương pháp giáo dục Shichida đặt mục tiêu giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ lên hàng đầu. Cụ thể là dạy bé những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, cách bé suy nghĩ độc lập, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng. Ông là tác giả của bộ sách Cha mẹ Nhật đã dạy con nhƣ thế nào 7 z gồm 3 tập. Trong bộ sách của mình ông đã đưa ra phương pháp giáo dục giúp trẻ phát triển động cơ học tập, cũng như niềm vui tò mò, khám phá những điều mới và thế giới quan xung quanh trẻ.
Phương pháp Shichida đã xây dựng một cách tiếp cận về giáo dục theo hướng phát triển những tiềm năng thiên bẩm của con người, chứ không phải là để nhồi nhét tri thức. Hệ thống giáo dục nên chú trọng đến việc tôn trọng tính cá thể của từng đứa trẻ trong một tổng thế, chứ không chỉ xét đến những khả năng dựa vào học lực của trẻ ở trường. Đồng thời, mục tiêu của giáo dục não bộ cũng là để khuyến khích trẻ sử dụng những khả năng tuyệt vời của mình để phục vụ cho xã hội, cộng đồng, thế giới và trở thành những công dân tích cực. Một số nghiên cứu trong nước Với vai trò là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp học mầm non gánh trên vai trọng trách tạo ra các tiền đề cho trẻ bước vào các cấp học cao hơn, xây dựng những nền tảng cơ bản, ban đầu, trọng yếu cho việc hình thành nên nhân cách của mỗi cá nhân.
Nhiều năm trở lại đây, với sự quan tâm để phát triển cấp học giáo dục mầm non, đã có khá nhiều các điều chỉnh mạnh mẽ trong các cơ chế, chính sách, chế độ đối với cấp học này. Các nghiên cứu liên quan đến các hoạt động giáo dục mầm non cũng đã được tìm hiểu và thực hiện. Tuy nhiên các nghiên cứu đều tập trung vào các nội dung liên quan đến vai trò của hoạt động quản lý giáo viên như luận văn thạc sĩ với đề tài "Một số giải pháp bồi dưỡng chuẩn hóa giáo viên mẫu giáo các tỉnh duyên hải miền Trung" của tác giả Nguyễn Huy Thông (1999), đề tài "Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh" của tác giả Vũ Đức Đạm (2005), đề tài "Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Thái Nguyên" của tác giả Lưu Thị Kim Phượng (2009). 8 z Một số nghiên cứu về tâm sinh lý của trẻ mầm non như Giáo trình Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non do các tác giả Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Thị Anh Thư biên soạn (2005); Giáo trình Giáo dục học mầm non của các tác giả Nguyễn Thị Thường, Hoàng Thị Ngọc Lan biên soạn (2007).
Liên quan đến nội dung chương trình giáo dục mầm non thì đã có đề tài "Ảnh hưởng của chương trình giáo dục mầm non hiện hành đến phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của giáo viên mầm non thành phố Phan Thiết" của tác giả Nguyễn Thị Kim Hồng (2011) Về công tác phối kết hợp các lực lượng trong giáo dục mầm non đã có luận văn thạc sĩ với đề tài "Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006), đề tài "Quản lý xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non công lập quận Ba Đình, thành phố Hà Nội" của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014). Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về tổng quan việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ mầm non cũng như biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục trẻ mầm non. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả đã chọn vấn đề trên để làm nội dung nghiên cứu của mình. Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 1.
Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về QL. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QL.Marx (1813-1883): “QL là lao động điều khiển lao động”.Marx đã coi việc xuất hiện QL như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Marx đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.Taylor (1856 – 1915) thì với thuyết quản lý khoa học đã đưa ra bốn nguyên tắc QL khoa học: 1.
Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành; 2. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học; 3. Người QL phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị QL để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn; 4. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người QL và người bị QL.
Kế thừa quan điểm của W.Taylor, Henri Fayol (1841 – 1925) đã nhìn nhậ quá trình quản lý với tầm sâu rộng mới. Ông xem QL như một quá trình vận động nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức thông qua việc vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.