Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt đồng giáo dục môi trường. cho học sinh trung học cơ sở. + Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho. học sinh trung học cơ sở ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
+ Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho. học sinh trung học cơ sở ở quân Ô Môn, thành phố Cần Thơ. CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VE QUAN LY HOAT DONG GIAO DUC MOI TRUONG CHO HQC SINH TRUNG HQC CƠ SỞ 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐÈ 1.
Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục môi trường ở mước ngoài Trong giai đoạn văn mình công nghị „ đặc biệt là từ nửa cuối thế kỷ XX, con người đã can thiệp mạnh mẽ, thỏ bạo đến thiên nhiên, làm chuyển đổi các dỏng năng lượng tự nhiên, cất nối các chuỗi thức ăn vốn cỏ của tự nhiên, làm đơn điệu dẫn các hệ sinh thái. Việc sử dụng năng lượng ngảy cảng nhiều làm cho tải nguyên thiên nhiên nhanh chỏng cạn kiệt, MT thiên nhiên nhanh chống bị hủy hoại và õ nhiễm nghiêm trọng. Trước tình hình đó, con người đã bất đầu thức tỉnh và đã có những việc lâm cụ thể như: Năm 1929, Hội nghị toản bang Liên Xô (cũ) về bảo vệ thiên nhiên đã hop tai Matxcava (Nga). Năm 1933, cũng tại đây đã diễn ra hỏi nghị toàn Nga ban vé van dé nay.
“Trong những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ XX, tại hội nghị các nước phương Tây, vẫn để BVMT và tâi nguyên thiên nhiên đã thành vẫn để chỉnh trị quan trọng trong xã hội: năm 1970 Mỹ có bộ Luật Mỗi trưởng đầu tiên gọi Li National Environmental Policy of America (viét tit i NEPA); sau đó, các nước Canađa, Ôxtrâylia, Anh, Nhật, Tây Đức đều đã lần lượt có Luật về môi trưởng. Rachel Louise Carson (1907 - 1964) nhà nữ sinh vật học người Mỹ với tác phẩm nỗi tiếng “Mùa xuân lặng lẽ” (Silent Spring) 1962, được đánh giá và ghi nhận là đã làm xuất phát điểm cho phong trảo BVMT trên toàn câu. Tác phẩm này không những đã làm thay đổi nhân thức của người dân Mỹ về MT. mã còn góp phần thúc đây các chính sách về môi trường của đất nước.
Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa giáo dục MT là quả trình nhận biết các giá trị và lâm sáng tỏ các khải niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tương tác giữa con người. nền văn hoá, thể giới vật chat bao quanh, GDMT đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với vấn đề liên quan tới đặc tính MT. Năm 1972, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị về MT, họp tại Nairôbi (thủ đô của Kênya, một nước ở miễn Đông Châu Phi). Trong hôi nghỉ này đã thành lập “Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc.
Cũng trong khoảng thời gian nảy, Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization, viết tắt là WHO) ban hành chất lượng nước uống và không khi. Cuỗi những năm 70 và đầu những năm 80 của thể kỷ XX, các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Philippin, Inđỏnêsia, Trung Quốc đều đã lần lượt có Luật về mỗi trường. Hội nghị quốc tế về GDMT của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào. năm 1977 đã đưa ra khái niệm: "Giáo dục môi trưởng cỏ mục đỉch lim cho cá nhân và các công đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trưởng nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, li học, xã hội.
kinh tế và văn hóa: đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về: giá trị, thải độ vả kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm vả hiệu qua trong phòng ngửa và giải quyết các vẫn để môi trường và quản lý chất lượng môi trường”. Năm 1987, tại Hội nghị về MT ớ Moscow do UNEP và UNESCO ding tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của GDMT: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chủng về những mỗi quan hệ mật thiết giữa chất lượng mỗi trưởng với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày cảng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mỗi nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thể giới. Bởi vì, hành động của con người tủy thuộc vào động cơ của họ và động cơ nảy lại tủy thuộc vào chỉnh nhận thức và trình độ hiểu biết của họ. Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiểu để giúp mọi người hiểu biết về ï trưởng”.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vai trò của cô giáo, thầy giáo là hết site quan trong trong việc giáo dục MT ở tất cả các cấp học được các quốc. gia quan tâm đặc biệt. Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục môi trường ở Vigt Nam © Việt Nam, hoạt đông GDMT là một trong những vấn đề lớn được quan tâm sâu sắc, trong tiên trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ BVMT luôn được Đăng và Nhà nước coi trọng. Có thể kể đến các mốc chính trong quá trình phát triển của hoạt động BVMT như sau: Ngày 28/11/1959.
trên Báo Nhân dân số 2082, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây”. Quan tâm đến MT thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của MT sống, Bác đặt vấn để phải đấu tranh chống lại những tai họa của thiên nhiễn, quan tâm đến việc trồng cây vả bảo vệ rừng, cấm phá rừng. Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lấy mẫu xanh của đất nước. Cho đến nay phong trảo trồng cây ngây cảng phát triển mạnh mẽ.
Ngày 31/12/1964, Hội đồng Chỉnh phủ ra Nghị quyết số 194/CP ban hành "Điều lệ gitt gin vé sinh bảo vệ sức khỏe”; Năm 1971, Bộ Y tế ban hành bản “Hướng dẫn thí hành điều lệ giữ gìn vệ sinh”, trong đó có phân dé cập đến vệ sinh Mĩ Nam 1980, trong Hiến pháp sửa đổi, lều 36 quy định: "các cơ quan nhà nước, xi nghiệp, hợp tác xã, các đơn vị vũ trang nhân đân vả công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguễn tải nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện MT sống; Nam 1983, chương trình nghiên cứu về tải nguyên thiên nhiên và MT. bắt đầu tìm hiểu và nghiên cửu về phương pháp luân Đánh giá tác động MT; ‘Nam 1986, Chuong trình nghiên cứu tài nguyên và MT, với sự cộng tác của Hiệp hội Bảo vệ thiến nhiền Quốc tế (IUCN), đã để xuất với Nhả nước. một “chiến lực quốc gia về bảo vệ MT”; Ngày 12/6/1991, Hội đồng Bộ trướng chính thức ban hành Kế hoạch quốc gia về MT vả phát triển bể Ngày 27/12/1993, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ MT; Ngày 10/01/1994, Chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố Luật Bảo vệ MT (số 29-L/CTN). Ngày 18/4/1994, Chỉnh phủ ra Nghị định số 175/CP hướng dẫn thi hành bộ luật này; Từ năm 1995, dự án giáo dục MT trong nhà trường phỏ thông Việt Nam (VIE 95/041) của Bộ GDĐT do UNDP tải trợ nhằm vào các mục tiêu cơ.
bản: Hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về giáo dục MT tại Việt Nam; tăng cường năng lực của Bộ GDĐT trong việc truyền đạt những nội dung và phương pháp giảo dục MT vào các chương trình đào tạo giáo viên; xây dựng các hoạt động giáo dục MT cụ thể để thực. hiện ở cấp tiểu học và trung học. Những chủ đề vẻ giáo dục MT duge ling ghép vào các môn học có liên quan đến MT như: Hoá học, Sinh học. Địa lý, Giáo dục công dân; Ngày 25/6/1998 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW vẻ việc “Tăng cường công tác bảo vệ môi trưởng trong thời kỳ công nghiệp hỏa, hiện đại hóa đất nước”: Tháng 11/2004, Bộ Chỉnh trị khóa IX tiếp tục ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW vẻ “Bảo vệ môi trưởng trong thời kỳ đầy mạnh, công nghiệp hóa, 10 hiện đại hóa đất nước” với 5 quan điểm, 3 mục tiêu, 5 nhiệm vụ chung và 14 nhiệm vụ cụ thể về báo vệ mồi trường.
Tại kỳ họp thử 8, khóa XI Quốc hội đã sửa đổi và thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi ngày 29/11/2005, mang số 52/2005/QH11. Ngày 21/1/2009 Ban Bí thư tiếp tục ban hành Chỉ thị số 29-CT/TW về tiếp tục thực hiện nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị *Vẻ báo vẻ mỗi trường trong thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Ngày 03/6/2013, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phủ Trọng đã kỷ ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW: "Về chủ động ứng phó với biến đối khi hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường" đã được Hội nghị trung ương 7 (khóa XI) thông qua. Quốc hội khóa XIH kỳ họp thứ 7 đã tiếp tục sửa đối vả thông qua Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 cỏ hiệu lực tử ngày 01/01/2015 cho tới nay.
Điều 155, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi 2014 của Quốc hôi Nước Công hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã nêu: “Chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dung giáo dục về môi trường”, "Nhà nước ưru tiền đảo tạo nguồn nhân lực BVMT; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường vả đảo tạo nguồn nhân lực BVMT” và *Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ tri, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tải nguyên và Mỗi trưởng quy định chí tiết chương trình giáo dục về môi trưởng. và đảo tạo nguồn nhân lực BVMT”. Nhà giáo ưu tú, Giáo sư Tiến sĩ Đặng Thị Kim Chỉ (Ủy viên Ban chấp. hành trung ương hội bảo vệ tải nguyên vả môi trưởng Việt Nam) từng hoàn thành xuất sắc luận án tiến sĩ và sau đó được tham gia công trình nghiên cửu cấp nhà nước năm 2001 - 2005 *Nghiên cứu các gi phip va sách nhằm cải thiện chất lượng môi trường các làng nghề Việt Nam”.
Công trình nảy đã giúp cho các nhà khoa học vả các nhả quản lý nhận thấy vấn đề MT ở các làng nghề Việt Nam là rất bức xúc và cẳn có một giải pháp cụ thể giải quyết các vấn để về MT. Như vậy, Đáng và Nhà nước ta, các nhà khoa học đã có những định hướng, giải pháp trong hoạt động BVMT song song với việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, không những sởm mả còn kịp thời và phù hợp với xu thế, yêu cầu phát triển bẻn vững.